phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, mục lục, phụ lục, luận văn gồm có 03 chƣơng chính: Chƣơng 1. Những vấn đề chung về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại ngân hàng thƣơng mại Việt Nam Chƣơng 3. Một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại ngân hàng thƣơng mại Việt Nam 10 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Những vấn đề chung về biện pháp bảo đảm 1. Khái niệm biện pháp bảo đảm và tài sản bảo đảm 1. Khái niệm biện pháp bảo đảm NH trên thế giới ra đời vào thế kỷ thứ III-IV trƣớc công nguyên, mục đích ban đầu của nó nhận tiền nhàn rỗi của ngƣời này cho ngƣời khác có nhu cầu vay tiền để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng. Mặc dù ngày nay, NH đã đa dạng hóa nhiều sản phẩm, dịch vụ, một số NH hiện đại đã không còn chủ yếu thực hiện hiện chức năng đi vay để cho vay nhƣ truyền thống.
Tuy nhiên, tại nƣớc ta cho vay vẫn là nghiệp vụ chủ đạo mang lại phần lớn doanh thu và lợi nhuận cho NH. Việc cho vay KH dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi, NH dựa vào năng lực, uy tín của KH để cho vay. Song, trong quá trình vay vốn, không phải lúc nào cũng thuận lợi, đôi khi KH gặp rủi ro ảnh hƣởng đến khả năng hoàn trả nợ vay, bên cạnh đó không ít KH còn không có thiện chí trả nợ. Để bảo vệ lợi ích của mình, thu hồi đƣợc vốn và lãi phòng khi KH vi phạm nghĩa vụ, các NH thƣờng thỏa thuận với KH thực hiện các BPBĐ theo quy định của pháp luật.
BLDS 2015 và Nghị định 21 không đƣa ra một khái niệm "biện pháp bảo đảm" mà Điều 292 BLDS 2015 chỉ liệt kê chín BPBĐ. Từ điển giải thích luật học do Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên có đƣa ra khái niệm "biện pháp đảm bảo hợp đồng kinh tế" là "biện pháp được pháp luật quy định hoặc các bên tham gia hợp đồng thỏa thuận, lựa chọn để áp dụng trong từng quan hệ hợp đồng với mục đích ngăn ngừa vi phạm hợp đồng và đảm bảo bù đắp thiệt hại phát sinh khi có vi phạm hợp đồng".4 Từ khái niệm này cùng với các quy định của pháp luật chúng ta có thể đƣa ra khái niệm "biện pháp bảo đảm là các biện pháp do pháp luật quy định hoặc các 4 Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên (2000), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, tr17 11 bên thỏa thuận lựa chọn phù hợp với quy định của pháp luật về phạm vi trách nhiệm, mức độ chịu trách nhiệm, hình thức, biện pháp chịu trách nhiệm của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng nhằm mục đích ngăn ngừa vi phạm và bù đắp thiệt hại phát sinh khi có vi phạm”. Nhƣ vậy: - BPBĐ là các quy định của pháp luật nhằm BĐ thực hiện nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận, đồng thời xác định và bảo vệ quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ BĐ. - BPBĐ còn là sự thỏa thuận của các bên tham gia HĐ lựa chọn sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để phòng ngừa rủi ro khi bên kia vi phạm, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ.
Khái niệm tài sản bảo đảm Tài sản là thuật ngữ phổ biến đƣợc dùng trong đời sống, kinh tế, xã hội. Trong khoa học pháp lý, tài sản là một nhóm khách thể quan trọng trong 5 nhóm khách thể của quan hệ pháp luật dân sự5. Cùng với sự hiểu biết của con ngƣời, sự phát triển của khoa học, công nghệ và sự phát triển của khoa học pháp lý, khái niệm về tài sản ngày càng đƣợc mở rộng. BLDS 1995 tại Điều 172 liệt kê tài sản bao gồm: vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá đƣợc bằng tiền và các quyền tài sản.
Đến BLDS 2015, khái niệm tài sản đã đƣợc mở rộng, "Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản" (Khoản 1 Điều 105). Với khái niệm này, tài sản không chỉ là vật hữu hình mà còn là quyền tài sản, không chỉ có tài sản hiện hữu mà còn có cả tài sản hình thành trong tƣơng lai. Về TSBĐ, đây là thuật ngữ đƣợc đề cập trong nhiều văn bản pháp luật. BLDS 2015 và Nghị định 21 không có định nghĩa TSBĐ.
Tuy nhiên, có thể dƣa ra khái niệm "Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm" nhƣ Khoản 7 Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ-CP. Bên cạnh đó, TSBĐ phải thỏa mãn các điều kiện theo Điều 295 BLDS 2015: 5 Đinh Văn Thanh, Nguyễn Minh Tuấn (2019), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam Tập 1, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, tr65. Năm nhóm khách thể của quan hệ pháp luật dân sự gồm: tài sản, hành vi và các dịch vụ, kết quả hoạt động tinh thần sáng tạo, các giá trị nhân thân, quyền sử dụng đất. 12 Thứ nhất, TSBĐ phải thuộc sở hữu của bên BĐ (trừ trƣờng hợp cầm giữ tài sản và bảo lƣu quyền sở hữu).
Thứ hai, TSBĐ có thể đƣợc mô tả chung nhƣng phải xác định đƣợc. Tài sản BĐ là BĐS hoặc động sản phải xác định đƣợc một cách rõ ràng, cụ thể, có cơ sở về mặt pháp lý và thực tế. Thứ ba, TSBĐ có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tƣơng lai. Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành, có thể mô tả đƣợc rõ ràng, cụ thể và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản từ trƣớc hoặc ngay tại thời điểm xác lập giao dịch.
Tài sản hình thành trong tƣơng lai bao gồm tài sản chƣa hình thành nhƣ TSBĐ hình thành từ vốn vay, tài sản đang hình thành tại thời điểm giao dịch nhƣ căn hộ đang xây dựng; tài sản đã hình thành nhƣng theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu nhƣ QSDĐ, nhà ở, xe ô tô… Tài sản hình thành trong tƣơng lai chƣa thuộc sở hữu của bên BĐ nhƣng có căn cứ sẽ thuộc sở hữu của bên BĐ nhƣ là HĐ mua bán, hợp đồng đặt cọc. Thứ tư, nghĩa vụ có thể đƣợc BĐ toàn bộ hoặc một phần theo thỏa thuận của các bên. Thứ năm, TSBĐ phải đƣợc phép giao dịch và tuân thủ một số quy định đối với một số trƣờng hợp nhƣ tài sản tại các doanh nghiệp nhà nƣớc, tài sản là QSDĐ … 1. Đặc điểm biện pháp bảo đảm Tùy thuộc vào đối tƣợng BĐ, các loại BPBĐ có một số đặc điểm riêng, nhƣng về cơ bản các BPBĐ có một số đặc điểm chung nhƣ sau: Thứ nhất, việc thực hiện BPBĐ là thực hiện HĐ vay và dự phòng rủi ro khi HĐ bị vi phạm.
Do đó, HĐBĐ chỉ phải thực hiện khi HĐ vay bị vi phạm. Thỏa thuận về BPBĐ thực hiện HĐ có thể là điều khoản trong HĐ vay hoặc HĐ độc lập. Thứ hai, mục đích của BPBĐ không phải là thực hiện HĐBĐ mà là dự phòng rủi ro và nâng cao trách nhiệm của các bên tham gia quan hệ HĐ. Ví dụ nhƣ trong HĐ vay vốn, NH yêu cầu KH thế chấp tài sản không phải vì mong muốn XLTSBĐ của KH để thu hồi vốn và lãi mà mong muốn KH có trách nhiệm trả nợ.
13 Thứ ba, đối tƣợng của các BPBĐ là lợi ích vật chất. Lợi ích mà BPBĐ là lợi ích vật chất do đó, đối tƣợng của BPBĐ thƣờng là tài sản và đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật. Thứ tư, phạm vi BĐ thực hiện nghĩa vụ không đƣợc vƣợt quá nghĩa vụ phải thực hiện. Khoản 1 Điều 293 BLDS 2015 quy định "Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại".
Nhƣ vậy, kể cả trong trƣờng hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định thì phạm vi BĐ không đƣợc vƣợt quá nghĩa vụ đƣợc BĐ bao gồm cả gốc, lãi, phạt vi phạm HĐ và bồi thƣờng thiệt hại. Khi XLTSBĐ, bên nhận BĐ chỉ đƣợc nhận phần giá trị tƣơng đƣơng với quyền lợi của mình mặc dù giá trị TSBĐ thu đƣợc có thể nhiều hơn phần nghĩa vụ mà bên BĐ phải thực hiện. Thứ năm, BPBĐ thực hiện nghĩa vụ chỉ đƣợc thực hiện khi có vi phạm nghĩa vụ. BPBĐ thực hiện nghĩa vụ nhằm dự phòng khi bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết.
Do đó, nếu bên có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình thì đƣơng nhiên BPBĐ hết hiệu lực. Thứ sáu, BPBĐ thực hiện nghĩa vụ xuất phát từ sự thỏa thuận của các bên. Cũng mang đặc điểm nhƣ quan hệ HĐ dân sự, việc thỏa thuận các biện pháp BĐ thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận trên nguyên tác tự nguyện, bình đẳng, không trái các quy định của pháp luật. Thứ bảy, GDBĐ thực hiện nghĩa vụ đƣợc ký kết trong cùng HĐ hoặc đƣợc lập thành HĐ riêng; nội dung BĐ phải ghi rõ BĐ cho nghĩa vụ, HĐ cụ thể nào.
Từ các đặc điểm trên có thể rút ra BPBĐ thực hiện nghĩa vụ trong HĐ dân sự do các bên thỏa thuận nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro khi bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ, bảo vệ quyền lợi của bên có quyền và nâng cao trách nhiệm của bên có nghĩa vụ. Thông thƣờng các bên lựa chọn các biện pháp dùng tài sản để BĐ thực hiện thực hiện nghĩa vụ. Đối với BĐ bằng biện pháp bảo lãnh là việc thực hiện công việc nhất định nhằm thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ khi đến thời hạn 14 thực hiện nghĩa vụ mà bên đƣợc bản lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ. Ngoài ra, một đặc trƣng trong quan hệ BĐ thực hiện nghĩa vụ ở nƣớc ta là "Tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở có thể bảo đảm bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng theo quy định của pháp luật" (Điều 344 BLDS 2015)6.