Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" được tác giả Ngô Quốc Kỳ thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Mơ và TS. Dương Đăng Huệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Tư pháp), bảo vệ năm 2003 thuộc chuyên ngành Luật kinh tế.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng công cuộc đổi mới hoạt động ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn 1988–2003 là quá trình chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống hai cấp, phân định giữa chức năng quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước và chức năng kinh doanh của ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau 15 năm đổi mới, hệ thống pháp luật ngân hàng đã bộc lộ nhiều hạn chế: chưa điều chỉnh toàn diện hệ thống theo mô hình hiện đại, chưa phân biệt rõ ngân hàng với các tổ chức trung gian tài chính khác, nhiều chế định pháp luật còn vướng mắc, chồng chéo, chưa đáp ứng kịp thời các quan hệ kinh tế mới nảy sinh. Nhiều rủi ro pháp lý đã phát sinh trên thực tế (điển hình như các vụ án lớn liên quan đến tín dụng và bất động sản như Epco - Minh Phụng, Tamexco), đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng thương mại.

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng đối với hoạt động của ngân hàng thương mại ở Việt Nam, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật này.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể qua 4 nội dung:

  1. Nghiên cứu và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về ngân hàng thương mại, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại.
  2. Phân tích vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại, làm rõ cơ sở lý luận của việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật.
  3. Phân tích, đánh giá khách quan thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại ở Việt Nam, chỉ ra các hạn chế và bất cập.
  4. Đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tổng thể các quy phạm pháp luật, chế định pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam theo Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Phạm vi về chủ thể: Luận án tập trung vào hai loại hình là ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) và ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP); không nghiên cứu ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam.
  • Phạm vi về nội dung: Luận án giới hạn ở các chế định hoạt động cụ thể bao gồm cấp tín dụng, bảo đảm tiền vay, thanh toán qua ngân hàng, hoạt động trên thị trường chứng khoán, bảo đảm an toàn hoạt động, kiểm soát đặc biệt, thanh tra và giám sát; không đi sâu vào các nội dung về thành lập, quản trị điều hành, phá sản, cạnh tranh và giải quyết tranh chấp ngân hàng.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực tiễn 15 năm đổi mới ngân hàng giai đoạn 1988–2003.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tài liệu, tác giả điểm lại các công trình nghiên cứu trong nước đã công bố liên quan đến môi trường pháp lý và các khía cạnh chuyên sâu của hoạt động ngân hàng:

  • GS.TS. Hoàng Văn Hảo với bài viết "Một vài suy nghĩ về môi trường pháp lý trong lĩnh vực ngân hàng ở nước ta".
  • PGS.TS. Lê Hồng Hạnh với nghiên cứu "Về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng".
  • TS. Dương Đăng Huệ với công trình "Có hay không sự bình đẳng tuyệt đối giữa các loại hình doanh nghiệp nói chung và giữa các loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ nói riêng".
  • TS. Nguyễn Minh Mẫn và TS. Võ Đình Toàn với bài viết "Tạo dựng môi trường pháp lý cho sự nghiệp tiếp tục đổi mới hoạt động ngân hàng".
  • TS. Nguyễn Am Hiểu với công trình "Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật ngân hàng trong điều kiện hiện nay".
  • TS. Lê Thị Thu Thủy và TS. Nguyễn Anh Sơn với nghiên cứu "Bảo đảm tiền vay của Tổ chức tín dụng".
  • TS. Đinh Dũng Sỹ với bài viết "Bảo hiểm tiền gửi và vấn đề an toàn của hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng".
  • Trần Đình Triển với Luận án Tiến sĩ "Địa vị pháp lý của ngân hàng thương mại Việt Nam".

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Các công trình trên tiếp cận vấn đề ở từng góc độ riêng lẻ như địa vị pháp lý, môi trường pháp lý chung, bảo đảm tiền vay, bảo hiểm tiền gửi hoặc điều ước thanh toán quốc tế. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện những vấn đề lý luận về ngân hàng thương mại và pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng thương mại, chưa phân tích đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng cũng như chưa đánh giá tổng thể thực trạng các chế định điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại để đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết của luận án được xây dựng trên nền tảng:

  • Lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin: Vận dụng học thuyết của Karl Marx về nguồn gốc, bản chất của tiền tệ, sự chuyển hóa từ trao đổi hàng hóa trực tiếp $(H-H)$ sang lưu thông hàng hóa $(H-T-H)$, sự hình thành tín dụng thương mại, thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, tiền tín dụng và quá trình tập trung tư bản tiền tệ thông qua các trung gian tài chính.
  • Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Quán triệt đường lối phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là các định hướng nêu trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX về việc hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý và áp dụng chuẩn mực quốc tế về an toàn kinh doanh tiền tệ - ngân hàng.

Phương pháp nghiên cứu được luận án áp dụng bao gồm:

  • Phương pháp luận triết học: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích và tổng hợp văn bản quy phạm pháp luật; phương pháp logic và lịch sử; phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam với pháp luật ngân hàng của các quốc gia như Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Ba Lan, Malaysia, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ và các tập quán thương mại quốc tế như UCP 500, URC 522, URDG 458 do Phòng Thương mại Quốc tế - ICC ban hành).

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ năm 1987 đến năm 2003 (Chỉ thị 218/CT, Nghị định 53/HĐBT, Pháp lệnh Ngân hàng 1990, Luật Ngân hàng Nhà nước 1997, Luật các Tổ chức tín dụng 1997, Nghị định 49/2000/NĐ-CP, Nghị định 64/2001/NĐ-CP, Nghị định 78/2002/NĐ-CP, Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN).
  • Dữ liệu thực tiễn và các vụ án kinh tế phát sinh trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về ngân hàng thương mại và pháp luật về ngân hàng thương mại

Chương 1 làm rõ lịch sử hình thành, bản chất kinh tế - pháp lý của ngân hàng thương mại, phân định ngân hàng thương mại với các định chế tài chính phi ngân hàng, xác định vai trò của ngân hàng thương mại và phân tích khung lý thuyết về pháp luật ngân hàng.

Về lịch sử hình thành, sự ra đời của ngân hàng thương mại gắn liền với sự phát triển của sản xuất hàng hóa, từ những nghiệp vụ ban đầu của thợ vàng (nhận bảo quản kim loại quý, phát hành giấy biên nhận) chuyển sang hoạt động vay để cho vay. Ngân hàng thương mại đóng vai trò là tổ chức trung gian tập trung vốn nhàn rỗi trong xã hội để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán.

Luận án phân tích ba nhóm nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại:

  • Nghiệp vụ tài sản Nợ (tạo vốn): Nhận tiền gửi (thanh toán, có kỳ hạn, tiết kiệm), phát hành công cụ nợ (chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu), vay ngân hàng trung ương và các tổ chức tín dụng khác, quản lý vốn pháp định và các quỹ dự trữ (quỹ bổ sung vốn pháp định, quỹ dự trữ đặc biệt).
  • Nghiệp vụ tài sản Có (sử dụng vốn): Nghiệp vụ ngân quỹ (tồn quỹ tiền mặt, tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán tại ngân hàng trung ương), nghiệp vụ cấp tín dụng (chiết khấu thương phiếu, tín dụng ứng trước, cho thuê tài chính - leasing, bao thanh toán - factoring, tín dụng tiêu dùng, bảo lãnh ngân hàng) và nghiệp vụ tài chính/đầu tư chứng khoán.
  • Nghiệp vụ trung gian: Mở và sử dụng tài khoản, cung ứng các phương tiện và dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt (séc, lệnh chi, thẻ thanh toán, bù trừ công nợ), kiều hối, tư vấn tài chính và quản lý tài sản.

Luận án xác lập tiêu chí phân biệt giữa ngân hàng thương mại và các định chế tài chính phi ngân hàng: Ngân hàng thương mại được thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ ngân hàng (nhận tiền gửi không kỳ hạn, cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh toán), trong khi các định chế tài chính phi ngân hàng (công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm) chỉ được thực hiện một số nghiệp vụ nhất định, không được nhận tiền gửi không kỳ hạn và không được cung ứng phương tiện thanh toán.

Về sự phát triển của khái niệm ngân hàng thương mại trong pháp luật Việt Nam, tác giả hệ thống hóa qua bảng so sánh:

Tiêu chí Nghị định 53/HĐBT (1988) Pháp lệnh Ngân hàng (1990) Luật các TCTD (1997) và Nghị định 49/2000/NĐ-CP
Tên gọi/Thuật ngữ Ngân hàng chuyên doanh Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại (thuộc loại hình TCTD)
Tính chất chủ thể Tổ chức kinh doanh trực tiếp đối với nền kinh tế quốc dân Tổ chức kinh doanh tiền tệ Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
Nội dung hoạt động chủ yếu Tín dụng, ngoại hối, kim khí quý, cấp phát vốn xây dựng cơ bản Nhận tiền gửi có hoàn trả, cho vay, chiết khấu, làm phương tiện thanh toán Nhận tiền gửi, cấp tín dụng (cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, thuê tài chính...), cung ứng dịch vụ thanh toán
Định hướng mô hình Bước đầu tách hệ thống 2 cấp, còn lồng ghép nhiệm vụ hành chính Mô hình ngân hàng thương mại đa năng nhưng chưa đồng bộ Mô hình đa năng có kiểm soát; tách biệt hoạt động chứng khoán, bảo hiểm, cho thuê tài chính thành công ty độc lập

Luận án cũng chỉ ra ba nhân tố cơ bản chi phối pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng thương mại:

  1. Tính đặc thù của hoạt động ngân hàng: kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt (quyền sử dụng tiền tệ), hoạt động dựa trên nguyên tắc hoàn trả, tạo tiền ghi sổ, tính nhạy cảm cao và tác động lây truyền dựa trên lòng tin của công chúng.
  2. Cơ chế quản lý kinh tế: sự chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phân định rạch ròi giữa quản lý nhà nước và hoạt động kinh doanh.
  3. Trình độ phát triển kinh tế - xã hội và mức độ hội nhập quốc tế của quốc gia.

Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Chương 2 tập trung khảo sát, phân tích các quy định pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn áp dụng đối với hoạt động của ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Nội dung khảo sát bao gồm 6 nhóm chế định pháp luật:

  • Pháp luật về cấp tín dụng: Phân tích các hình thức cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh và cho thuê tài chính; đánh giá quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN.
  • Pháp luật về bảo đảm tiền vay: Khảo sát các biện pháp cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản, xử lý tài sản bảo đảm; chỉ ra những hạn chế trong việc đăng ký giao dịch bảo đảm và việc định giá tài sản thế chấp là bất động sản.
  • Pháp luật về thanh toán qua ngân hàng: Phân tích khuôn khổ pháp lý về thanh toán không dùng tiền mặt theo Nghị định 64/2001/NĐ-CP, việc quản lý tài khoản và các công cụ thanh toán (séc, ủy nhiệm chi, thanh toán điện tử liên ngân hàng).
  • Pháp luật về hoạt động trên thị trường chứng khoán: Quy định về điều kiện để ngân hàng thương mại tham gia thị trường chứng khoán sơ cấp và thứ cấp thông qua việc thành lập công ty chứng khoán độc lập theo Nghị định 48/1998/NĐ-CP.
  • Pháp luật về bảo đảm an toàn hoạt động: Các quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng và cơ chế bảo hiểm tiền gửi.
  • Pháp luật về kiểm soát đặc biệt, thanh tra, giám sát: Cơ chế can thiệp của Ngân hàng Nhà nước khi tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc vi phạm nghiêm trọng các quy định an toàn.

Nhận xét chung về thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật: Luận án chỉ ra rằng hệ thống pháp luật ngân hàng đã tạo hành lang pháp lý ban đầu cho việc thiết lập thị trường tiền tệ. Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều bất cập: một số quy định chưa đồng bộ với Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước; thiếu cơ chế xử lý nợ xấu hiệu quả; thủ tục xử lý tài sản bảo đảm còn phức tạp; việc phân định giữa tín dụng thương mại và tín dụng chính sách chưa triệt để, dẫn đến tình trạng vốn của ngân hàng thương mại bị ứ đọng hoặc rủi ro tập trung cao.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Chương 3 luận giải nhu cầu khách quan và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật ngân hàng.

Nhu cầu khách quan xuất phát từ đòi hỏi tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, phát triển các công cụ thanh toán hiện đại và thực hiện các cam kết quốc tế trong tiến trình hội nhập kinh tế.

Phương hướng hoàn thiện:

  • Thể chế hóa đầy đủ đường lối của Đảng về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa pháp luật ngân hàng với hệ thống pháp luật kinh tế và dân sự.
  • Tiếp cận và nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế về an toàn hoạt động ngân hàng (như các nguyên tắc của Ủy ban Basel, tập quán quốc tế của ICC).
  • Tách bạch dứt điểm giữa hoạt động tín dụng theo cơ chế thị trường của ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng ưu đãi chính sách của Nhà nước.

Các nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Hoàn thiện chế định cấp tín dụng và bảo đảm tiền vay: Sửa đổi quy chế cho vay, minh bạch hóa điều kiện cấp tín dụng, mở rộng các phương thức cấp tín dụng hiện đại (factoring, bao thanh toán), hoàn thiện thủ tục đăng ký và xử lý tài sản thế chấp.
  2. Hoàn thiện pháp luật về thanh toán: Mở rộng phạm vi thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển hạ tầng pháp lý cho thanh toán điện tử và thẻ ngân hàng.
  3. Hoàn thiện cơ chế bảo đảm an toàn và quản lý rủi ro: Chuẩn hóa quy định về trích lập dự phòng rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTG) và Công ty quản lý tài sản (AMC).
  4. Nâng cao hiệu lực thanh tra, giám sát ngân hàng: Hoàn thiện quy chế kiểm soát đặc biệt, tăng cường thẩm quyền và tính chủ động của cơ quan thanh tra Ngân hàng Nhà nước.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt khoa học của luận án bao gồm:

  1. Đây là công trình luận án tiến sĩ luật học đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu có hệ thống và toàn diện các vấn đề lý luận về ngân hàng thương mại và pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại.
  2. Xây dựng và chuẩn hóa khái niệm pháp lý về ngân hàng thương mại dưới hai giác độ kinh tế và pháp luật: Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, thường xuyên huy động vốn của công chúng để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán vì mục tiêu lợi nhuận.
  3. Luận giải khoa học sự khác biệt về bản chất pháp lý giữa ngân hàng thương mại và các định chế tài chính phi ngân hàng, làm cơ sở phân định thẩm quyền và phạm vi hoạt động trong xây dựng pháp luật.
  4. Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng pháp luật ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1988–2003, chỉ ra những xung đột, bất cập trong các chế định tín dụng, tài sản bảo đảm và an toàn vốn.
  5. Xây dựng hệ thống quan điểm, phương hướng và đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung Luật các Tổ chức tín dụng năm 1997 và các văn bản dưới luật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế và phạm vi chưa bao quát, luận án tự xác định:

  • Luận án chỉ tập trung nghiên cứu hai loại hình tổ chức tín dụng trong nước là ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần; chưa đi sâu nghiên cứu quy chế pháp lý áp dụng đối với ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam.
  • Về mặt nội dung, công trình tập trung vào các chế định hoạt động nghiệp vụ chủ yếu (tín dụng, bảo đảm tiền vay, thanh toán, tham gia thị trường chứng khoán, an toàn hoạt động và giám sát); chưa giải quyết toàn diện các khía cạnh pháp lý khác như: thủ tục thành lập và cấp phép, mô hình quản trị điều hành nội bộ, cơ chế phá sản ngân hàng, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực tiền tệ và cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động ngân hàng.

Các vấn đề nằm ngoài phạm vi này được tác giả xác định là định hướng cho các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo cụ thể đối với các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học cho Ban soạn thảo Luật các Tổ chức tín dụng sửa đổi, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tư pháp trong việc rà soát, sửa đổi quy chế cho vay, đăng ký giao dịch bảo đảm và các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong kinh doanh tiền tệ.
  • Nghiên cứu sinh, giảng viên và học viên chuyên ngành Luật kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên khảo về lý luận pháp luật ngân hàng, lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng hai cấp tại Việt Nam và phương pháp so sánh luật học trong lĩnh vực tài chính.
  • Cán bộ pháp chế và quản trị tại các ngân hàng thương mại: Tham khảo việc nhận diện rủi ro pháp lý trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản và quy trình kiểm soát nội bộ.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm ngân hàng thương mại theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 1997 có điểm gì khác so với Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990?
Luật các Tổ chức tín dụng năm 1997 (và Nghị định 49/2000/NĐ-CP) xác định ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và "dịch vụ ngân hàng" (rộng hơn khái niệm "kinh doanh tiền tệ" đơn thuần năm 1990). Về nội dung hoạt động, luật năm 1997 sử dụng thuật ngữ "cấp tín dụng" (bao gồm cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng) thay vì chỉ quy định "cho vay, chiết khấu" như năm 1990; đồng thời quy định bao quát hoạt động "cung ứng các dịch vụ thanh toán" thay vì chỉ "làm phương tiện thanh toán".

2. Tiêu chí pháp lý cốt lõi nào dùng để phân biệt ngân hàng thương mại với định chế tài chính phi ngân hàng?
Tiêu chí phân biệt cơ bản là quyền huy động tiền gửi không kỳ hạn và cung cấp dịch vụ thanh toán. Ngân hàng thương mại được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng (bao gồm nhận tiền gửi không kỳ hạn, mở tài khoản thanh toán và cung cấp phương tiện thanh toán cho khách hàng). Các định chế tài chính phi ngân hàng không được phép nhận tiền gửi không kỳ hạn và không được cung ứng các phương tiện thanh toán (như không được phát hành séc).

3. Vì sao ngân hàng thương mại cần phải tách biệt các hoạt động kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm thành các công ty độc lập?
Theo phân tích của luận án, để kiểm soát rủi ro và ngăn ngừa tình trạng đóng băng vốn hoặc lan truyền rủi ro từ thị trường tài sản sang hệ thống tiền tệ, pháp luật Việt Nam (Nghị định 48/1998/NĐ-CP, Nghị định 49/2000/NĐ-CP, Nghị định 16/2001/NĐ-CP) định hướng mô hình đa năng có kiểm soát, yêu cầu ngân hàng thương mại khi tham gia kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm hoặc cho thuê tài chính phải thành lập pháp nhân/công ty trực thuộc độc lập.

4. Ba nhân tố cơ bản nào ảnh hưởng trực tiếp đến pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng thương mại?
Ba nhân tố được luận án xác định gồm: (1) Tính đặc thù của hoạt động ngân hàng (kinh doanh quyền sử dụng vốn tiền tệ, nguyên tắc hoàn trả, chức năng tạo tiền, tính nhạy cảm tâm lý); (2) Cơ chế quản lý kinh tế (chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường); (3) Trình độ phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

5. Luận án không đi sâu vào những nội dung pháp lý nào?
Luận án không nghiên cứu về ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, và loại trừ các vấn đề về thành lập, tổ chức quản trị điều hành, phá sản ngân hàng, cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp ngân hàng.

Kết luận

Luận án của tác giả Ngô Quốc Kỳ là công trình nghiên cứu chuyên sâu cấp tiến sĩ về mặt pháp lý đối với hoạt động của ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bằng phương pháp tiếp cận duy vật biện chứng kết hợp so sánh luật học, tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận về định chế ngân hàng thương mại, phân tích thực trạng các quy định thực định và chỉ ra các rủi ro pháp lý phát sinh trong thực tiễn 15 năm đổi mới (1988–2003). Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án đã cung cấp cơ sở khoa học phục vụ quá trình lập pháp, đặc biệt là việc hoàn thiện khung pháp lý về an toàn hoạt động tín dụng, bảo đảm tiền vay và thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam.