Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. MOT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MAI 1. Khái quát chung về sự hình thành ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại ra đời, hoạt động và phát triển trong những điều kiện lịch sử, kinh tế- xã hội nhất định. Lịch sử ra đời và phát triển của NHTM gắn liền với sự tồn tai của nền sản xuất hàng hóa, lưu thông hàng hóa và quá trình quốc tế hóa nền kinh tế thế giới.
Tiền tệ là một phạm trù kinh tế - lịch sử, là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Quá trình phát triển của tiền tệ diễn ra bắt đầu từ những hình thái vật chất như vàng, tiền đến những hình thái "phi vật chất" như thẻ thanh toán, tiền điện tử. Về nguồn gốc hình thành tiền tệ, Các Mác đã từng viết: Tiền tệ là vật kết tinh, hình thành một cách tự nhiên trong sự trao đổi, qua đó mà thực tế các sản phẩm khác nhau của lao động được ngang bằng với nhau và chính do đó mà biến thành hàng hóa. Quá trình phát triển lịch sử của trao đổi ngày càng gắn cho các sản phẩm của lao động tính chất hàng hóa và đồng thời cũng phát triển sự đối lập nằm trong tính chất của hàng hóa, là sự độc lập giữa giá trị sử dụng và giá trị.
Cùng với sự chuyển hóa chung của các sản phẩm lao động thành hàng hóa, thì hàng hóa cũng chuyển hóa thành tiền tệ [28, tr. Trong nền kinh tế hàng hóa, tiền tệ thực hiện các chức năng cơ bản như thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện dự trữ giá trị, phương tiện thanh toán, trao đổi quốc tế và tiền tệ thế giới. Tiền tệ xuất hiện là kết quả của quá trình phát triển sản xuất hàng hóa và phân công lao động xã hội. Lưu thông hàng hóa khác với trao đổi sản phẩm trực tiếp ở chỗ hàng hóa phải được chuyển hóa thành tiền.
Chính quá trình nay và trong quan hệ này tiền là "sợi dây” liên hệ giữa những người sản xuất hàng hóa với nhau. Với tư cách là phương tiện lưu thông, sự tham gia của tiền tệ vào quá trình trao đổi hàng hóa đã phân biệt và tiến bộ hơn hẳn so với việc trao đổi hàng hóa trực tiếp. Nói cách khác, sự ra đời của tiền tệ là một quá trình bắt đầu từ việc trao đổi hàng hóa trực tiếp (H-H) chuyển thành lưu thông hàng hóa (H-T-H). Cùng với sự chuyển biến từ trao đổi hàng hóa trực tiếp sang lưu thông hàng hóa, nền kinh tế hàng hóa đã phát triển lên một trình độ mới cao hơn về chất và xuất hiện tín dụng thương mại.
Trong phương thức sản xuất hàng hóa, tín dụng thương mại là cho vay bằng hàng hóa, là thực hiện việc bán sản phẩm, vì vậy, trong số tiền phải hoàn trả lại bao gồm cả khoản thù lao về việc sử dụng tư bản và sự rủi ro có thể xảy ra trước khi đến kỳ han trả [6, tr. Tín dung thương mại ra đời và phát triển từ lưu thông hàng hóa giản đơn thông qua phạm trù mua bán chịu. Khi mua bán chịu, người mua phải viết giấy nhận nợ và cam kết sẽ trả tiền cho người bán sau một thời gian nhất định được hai bên thỏa thuận. Giấy nhận nợ và cam kết trả nợ này được gọi là kỳ phiếu thương mại hay gọi chung là thương phiếu.
Nội dung kinh tế cơ bản của kỳ phiếu là ở chỗ: những người có kỳ phiếu khi có nhu cầu về tiền thông thường muốn thu tiền về trước thời hạn ghi trên kỳ phiếu đó. Trong khi đó người phát hành kỳ phiếu (người mua chịu) lại chưa thể đáp ứng việc trả tiền. Do vậy, về logic, phải có người khác sắn sàng đáp ứng yêu cầu cho vay để trả tiền. Chính nhu cầu này đã làm phát sinh sự cần thiết khách quan phải có một tầng lớp người sẵn sàng cho vay và phải có tiền để cho vay, tức là phải có sự ra đời của tín dụng ngân hàng.
Theo cách diễn đạt của C.Mác thì tín dụng ngân hàng thực hiện trên cơ sở mở các nghiệp vụ "chiết khấu kỳ phiếu”, tức 10 là chuyển những kỳ phiếu đó thành tiền trước kỳ han của chúng va bằng cách ứng tiền cho vay [29, tr. Các thương phiếu xuất hiện với vai trò như trên là cơ sở cho tiền tín dụng, tức là giấy bạc ngân hàng ra đời. "Nếu những việc ứng trước lẫn nhau giữa những người sản xuất và thương nhân cấu thành cơ sở thực sự của tín dụng, thì cái công cụ để lưu thông những khoản ứng trước đó, tức là kỳ phiếu cũng vậy, nó cũng cấu thành co sở của thứ tiền tín dụng chính thống như giấy bạc ngân hàng. 488] va "giấy bạc ngân hàng chẳng qua chỉ là một dấu hiệu của tín dụng đang lưu hành" [29, tr.
Như vậy, giấy bạc ngân hàng cũng chỉ là những kỳ phiếu, là kỳ phiếu ngân hàng. Lưu thông ngân phiếu và giấy bạc ngân hàng đã ra đời từ kỳ phiếu thương mại và dần dần thay thế cho lưu thông kỳ phiếu để đáp ứng nhu cầu phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Một điều cần lưu ý là, trong khi phân tích sự vận động của tiền tệ và lưu thông tư bản thì đồng thời C. Mác cũng lý giải sự ra đời của một loại hình ngân hàng chuyên trách phát hành việc giấy bạc của thời kỳ sau chế độ vàng bản vị, đó là "ngân hàng me" hay ngân hàng trung ương, một loại ngân hàng thoát thai từ NHTM, xuất phát từ nhu cầu nội tại tất yếu của hoạt động ngân hàng, ngay từ đầu đã hàm chứa chức năng vạch chính sách, thể chế và điều phối chung, thực hiện các mặt quản lý của nhà nước.
Mác cũng chỉ rõ sự tồn tại của ngân hàng mẹ hay ngân hàng trung ương, trong một chừng mực nhất định, cũng chịu sự chi phối của các nguyên tắc thương mại. Mức độ và quy mô cụ thể của các tính chất này phụ thuộc vào mô hình tổ chức và trạng thái kinh tế tiền tệ, vào từng thời kỳ nhất định. Điều này lý giải tại sao, hiện nay trên thế giới, ở hầu hết các nước, bản thân hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng trung ương lại tạo ra nguồn thu mặc dầu nó không phải là một tổ chức kinh doanh theo đuổi lợi nhuận. Tiền tệ ra đời đã đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, mở rộng các hoạt động giao lưu hàng hóa.
Trên cơ sở này, các ngân hàng đã ra đời. "Bản 1} thân sự phát triển của nghề kinh doanh tiền tệ cũng tạo tiền đề va đòi hỏi phải xuất hiện ngân hàng, tức đòi hỏi phải có một hình thức tổ chức và bộ máy thích hợp, đảm nhiệm lĩnh vực lưu thông tiền tệ” [69, tr. Khi quan hệ thương mại được mở rộng vượt ra khỏi phạm vi một nước thì kỳ phiếu cũng được sử dụng cả trong quan hệ thương mại quốc tế. Qua kinh nghiệm thực tiễn, các doanh nghiệp cho rằng, để việc giữ tiền được an toàn mà lại sinh lợi, họ nên gửi tiền kim khí cho các tay thợ vàng, thợ bạc này để nhận về một giấy biên nhận, lúc cần thì đưa giấy biên nhận đến để rút tiền.
Các kiểu giấy biên nhận đó chính là hình thức ngân phiếu đầu tiên và hình thức ngân hàng đầu tiên là những chủ ngân hàng - thợ vàng đã xuất hiện như vậy. Do số tiền đúc, vàng thoi và bạc nén này không mang lại khoản thu nhập nào nên các chủ ngân hàng buộc phải thu phí dịch vụ giữ tiền (vàng, bạc). Sau một thời gian sử dụng và với sự thôi thúc của động cơ lợi nhuận, các chủ ngân hàng đã nhanh chóng phát hiện ra cách tạo nên tín dụng không chỉ với số tiền hiện có trong kho mà còn từng bước mở rộng việc kinh doanh bằng việc vay để cho vay. Như vậy, "những nghiệp vụ đầu tiên của tổ chức kinh doanh tiền tệ bao gồm: đổi tiền, nhận giữ tiền và bảo quản tiền, cho vay và chuyển tiền" [53, tr.
Đây là những manh nha ban đầu trong hoạt động tín dụng, một trong những hoạt động chủ yếu nhất của NHTM kể cả cho đến nay. Để tồn tại và phát triển, các ngân hàng đã buộc phải tìm mọi cách cạnh tranh để nâng cao uy tín của mình trên thị trường, không chỉ miễn, giảm phí gửi tiền của khách mà còn chấp nhận trả tiền lợi tức cho người có tiền gửi để vay thêm nhiều tiền gửi, giảm lãi suất cho vay để thu hút khách hàng, tăng thêm năng lực hoạt động kinh doanh tiền tệ. Chính nhờ các phản ứng tự hoàn thiện này mà nhiều ngân hàng - thợ vàng đã phát triển và trở thành những ngân hàng thực thụ. Khi các ngân hàng này ra đời và làm nhiệm vụ vay và cho vay thì mọi việc vay mượn với nhau, từ đây sẽ được 12 tập trung thực hiện chủ yếu thông qua các ngân hàng.
Nhu vậy là, "một mặt, ngân hàng là sự tập trung tư bản tiền tệ của những người có tiền cho vay, mặt khác, nó là sự tập trung các người đi vay” [29, tr. Điều này vừa phản ánh thuộc tính cơ bản nhất của hoạt động ngân hàng, vừa phản ánh mặt bản chất của ngân hàng với tư cách là một tổ chức trung gian. Chính bản chất này của ngân hàng cũng đồng thời chỉ ra yêu cầu điều chính pháp luật đối với hoạt động ngân hàng với tư cách là trung gian tài chính: vừa là người đi vay vừa là người cho vay. Từ đây, "cái mà chủ ngân hàng kinh doanh là bản thân tín dụng” và "tín dụng do người chủ ngân hàng cung cấp thì có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau, thí dụ bằng kỳ phiếu phát hành vào các ngân hàng khác trả bằng séc ngân hàng, bằng việc mở tín dụng trực tiếp và sau hết đối với ngân hàng có quyền phát hành giấy bạc ngân hàng thì bằng những giấy bạc ngân hàng của riêng những ngân hang đó" [29, tr.
Như vậy, về mặt lịch sử, sự ra đời, tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại là một tất yếu khách quan, gắn lién với các chủ thể sản xuất và trao đổi lưu thông hàng hóa tại các tụ điểm thị trường. Chính sự tập trung hóa nền sản xuất và phân công lao động xã hội đạt đến một trình độ cao đã làm xuất hiện ngân hàng thương mại, và ngân hàng thương mại, đến lượt mình lại đóng vai trò thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển nhanh.