CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ BẢO ĐẢM BÍ MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG "Các TCTD thông qua hoạt động nghiệp vụ của mình đã nắm giữ rất nhiều thông tin của khách hàng. Họ biết các thông tin riêng tư của khách hàng, tình trạng tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng, thậm chí cả sở thích, chi tiêu, lối sống, hội nhóm mà khách hàng là thành viên…Có thể nói, thông tin mà các TCTD nắm giữ là những thông tin rất quan trọng và nhạy cảm đối với khách hàng. Vấn đề đặt ra là khi nắm giữ nhiều thông tin của khách hàng như vậy thì nghĩa vụ của tổ chức này đối với những thông tin mà họ có quyền nắm giữ đó là gì"6? Mục đích nghiên cứu của chương này là: i) làm rõ thông tin khách hàng trong HĐNH; ii) làm rõ nguồn gốc của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng; iii) phân tích bản chất, cơ sở pháp lý phát sinh nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH; iv) phân tích phạm vi thông tin khách hàng cần được bảo mật; v) phân tích sự cần thiết phải bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong HĐNH.
Khái quát về thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng 1. Khái niệm thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng Trong đời sống con người, nhu cầu thông tin là một nhu cầu rất cơ bản. Nhu cầu đó không ngừng tăng lên cùng với sự gia tăng các mối quan hệ trong xã hội. Sự quan tâm đến hiện tượng thông tin gia tăng đột biến vào thế kỷ XX và ngày nay chúng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành chuyên môn, trong đó có triết học, vật lý, sinh học, ngôn ngữ học, thông tin học và tin học, kỹ thuật điện tử và truyền thông, khoa học quản lý và nhiều ngành khoa học xã hội.
Về phương diện thương mại, công nghiệp dịch vụ, thông tin đã trở thành một nền công nghiệp mới mẻ mang tính toàn cầu. Ngày nay, hầu như không một ngành công nghiệp, sản xuất và dịch vụ nào lại không quan tâm đến thông tin. Những quan 6 Nguyễn Thị Kim Thoa (2018), Một số điểm mới về giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Tạp chí Ngân hàng (21), tr.21-25 1 điểm và hiện tượng khác nhau của lĩnh vực này đã dẫn đến những khái niệm và định nghĩa khác nhau về thông tin.7 Vậy thông tin là gì? Theo "Từ điển Tiếng Việt, thông tin là điều hoặc tin được truyền đi cho biết sự truyền đạt, sự phản ánh tri thức dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó".8 Theo nghĩa thông thường, thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một nguời có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh.
Trong lĩnh vực tin học, "thông tin là tập hợp các dữ liệu sau khi được xử lý cho ta những hiểu biết về một vấn đề nào đó. Thông tin là những dữ liệu có thể làm thay đổi tình trạng kiến thức của một người (những gì mà người đó biết) và đại diện vật chất cho những gì trừu tượng có thể tạo ra được sự thay đổi này".9 Dưới góc độ kinh tế, "thông tin được hiểu là tin tức, nội dung thông tin phải hàm chứa giá trị nhất định, đặc biệt phải thể hiện tính mới hoặc có tính tri thức".10 Như vậy, mỗi lĩnh vực khác nhau thì có định nghĩa khác nhau về thông tin. Các khái niệm, quan điểm về thông tin rất đa dạng tùy thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu. Trong lĩnh vực HĐNH, "chủ thể cung ứng sản phẩm dịch vụ cho khách hàng là các TCTD - đó là doanh nghiệp kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản".11 Chủ thể còn lại là khách hàng - bên còn lại trong quan hệ dân sự, thương mại với tư cách là người mua sản phẩm, dịch vụ từ TCTD.
Để thực hiện việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ 7 "Đoàn Phan Tân (2001), Về khái niệm thông tin và các thuộc tính làm nên giá trị của thông tin, Tạp chí Văn hóa - Nghệ thuật (3)" 8 "Trung tâm Từ điển học (2011), Từ điển Tiếng Việt Đà nẵng, Hà Nội, tr.1226" 9 "Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ môn Tin học (1996), Tập bài giảng tin học", tập 1, tr.8 10 "Viện Nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa (1998), Từ điển kinh tế thị trường, tr.1173" 11 "Khoản 1, Khoản 12 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017" 2 của mình, đồng thời thực hiện việc kiểm soát các giao dịch thì TCTD cần phải biết thông tin khách hàng".12 Vậy thông tin khách hàng trong HĐNH của TCTD là gì? Thông tin khách hàng trong HĐNH là những thông tin mà các TCTD có được thông qua hoạt động nghiệp vụ của mình. Tuy nhiên, thông tin ấy cụ thể gồm những gì thì được quy định không giống nhau ở từng nước. Việc xác định và ghi nhận khái niệm thông tin khách hàng của các TCTD có thể khái quát thành hai nhóm: Một là, thông tin khách hàng được ghi nhận thông qua phương pháp liệt kê Ở những quốc gia thông tin khách hàng được ghi nhận thông qua phương pháp này thì thường liệt kê cụ thể tất cả các thông tin liên quan đến các giao dịch được thực hiện giữa TCTD với khách hàng. Chẳng hạn, theo Luật Ngân hàng của Singapore năm 1970, được sửa đổi, bổ sung năm 2018 (Luật Ngân hàng của Singapore), "thông tin khách hàng là: a) thông tin liên quan đến hoặc bất kỳ thông tin nào về tài khoản của khách hàng, cho dù tài khoản đó là khoản vay, đầu tư hoặc bất kỳ loại giao dịch nào khác, nhưng không bao gồm thông tin không thể tham chiếu đến khách hàng hoặc nhóm khách hàng được định danh; hoặc b) “thông tin tiền gửi”, - thông tin tiền gửi là thông tin liên quan đến i) bất kỳ khoản tiền gửi nào của khách hàng, ii) các quỹ của khách hàng do ngân hàng quản lý; hoặc là c) két an toàn hoặc bất kỳ thỏa thuận lưu ký an toàn được thực hiện bởi một khách hàng với ngân hàng, nhưng cũng không bao gồm thông tin không được đề cập đến bất kỳ khách hàng hoặc nhóm khách hàng định danh nào".13 Như vậy, theo quy định của Luật Ngân hàng Singapore, thông tin khách hàng là thông tin mà phải xác định được danh tính của khách hàng, những thông tin không thể xác 12 Nguyễn Thị Kim Thoa (2015), Đảm bảo bí mật thông tin khách hàng của tổ chức hoạt động ngân hàng – nhìn từ góc độ pháp lý, Tạp chí Ngân hàng (22), tr.24-31 13 "Điều 40A, Singapore Banking Act năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2018 “customer information”, in relation to a bank, means - (a) any information relating to, or any particulars of, an account of a customer of the bank, whether the account is in respect of a loan, investment or any other type of transaction, but does not include any information that is not referable to any named customer or group of named customers; or (b) deposit information; “deposit information”, in relation to a bank, means any information relating to — (a) any deposit of a customer of the bank; (b) funds of a customer under management by the bank; or (c) any safe deposit box maintained by, or any safe custody arrangements made by, a customer with the bank, but does not include any information that is not referable to any named person or group of named persons;" 3 định được danh tính của khách hàng không được coi là thông tin khách hàng.
Ví dụ: thông tin về tài khoản, tiền gửi được trao đổi thông qua các cuộc trò chuyện điện thoại với khách hàng mà chỉ xác định là A, B hoặc C thì không bị coi là thông tin khách hàng. Hoặc theo quy định của Luật Ngân hàng và công ty ủy thác Bahamas năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2010, "thông tin khách hàng là thông tin liên quan đến danh tính, tài sản, nợ, giao dịch hoặc tài khoản của khách hàng hoặc bất kỳ thông tin nào trong hồ sơ yêu cầu của khách hàng tiềm năng".14 Như vậy, theo quy định của pháp luật Bahamas, thông tin khách hàng trong HĐNH mặc dù được liệt kê nhưng nội hàm thông tin khách hàng khá bao quát, bao gồm tất cả các thông tin có được trước khi trở thành khách hàng của ngân hàng. Thông tin đó không chỉ là những thông tin liên quan đến danh tính, tài sản, nợ, giao dịch… có trong hồ sơ khách hàng hiện hữu mà cả những thông tin này có trong hồ sơ của khách hàng tiềm năng. Hai là, thông tin khách hàng được ghi nhận thông qua phương pháp loại trừ Tại một số quốc gia, khái niệm “thông tin khách hàng” của TCTD được ghi nhận thông qua phương pháp loại trừ thì thường ghi nhận tất cả các thông tin liên quan trong quá trình giao dịch của khách hàng với các TCTD và loại trừ những thông tin khách hàng đã công bố rộng rãi hoặc được nhiều người biết đến.
Chẳng hạn Thụy Sĩ, "theo quy định của luật pháp nước này thì các ngân hàng bị ràng buộc về mặt pháp lý để giữ bí mật liên quan đến những giao dịch với khách hàng cũng như bất kỳ thông tin nào có được từ các giao dịch đó".15 Có thể thấy, theo pháp luật Thụy Sĩ, thông tin khách hàng được quy định rất rộng gồm bất kỳ thông tin phát sinh trong mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng. 14 "- Cộng đồng Thịnh vượng Bahamas, hay Quần đảo Bahamas là một quốc gia nói tiếng Anh tại Tây Ấn. Là một quần đảo với 700 hòn đảo và đảo nhỏ, Bahamas nằm ở Đại Tây Dương, phía đông Florida và Hoa Kỳ, phía bắc Cuba và vùng Caribe, phía tây lãnh thổ phụ thuộc Anh Turks and Caicos Islands. Bahamas là một quốc gia ổn định, phát triển với nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào du lịch và dịch vụ ngân hàng nước ngoài.
Bahamas được coi là một trong những trung tâm tài chính nước ngoài hàng đầu thế giới. - Điều 19 (1) Banks and Trust Companies Regulation Act năm 2000 (No.