Chương 1 NHỮNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VẺ HOẠT ĐỘNG MUA, BÁN NỢ XÁU VÀ PHÁP LUẬT VE HOAT ĐỘNG MUA, BAN NO XÁU CUA NGÂN HÀNG THUONG MẠI 1. Những vấn đề lý luận về hoạt động mua, bán nợ xấu của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động mua, bán nợ xấu của ngân hàng thương mại NHTM là trung gian tài chính trong nền kinh tế. Hoạt động huy động vốn, cấp tín dụng và thanh toán qua tài khoản cho khách hàng là hoạt động chủ yếu và thường xuyên của NHTM.
Trong số các hoạt động ngân hàng nêu trên thì hoạt động cấp tín dụng tác động mạnh tới sự phát triển của NHTM. Nếu ngân hàng có các khoản nợ xấu thì có thể ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng, có thể gây ra hiện tượng phá sản ngân hàng và khủng hoảng tài chính. Vì vậy việc mua, bản nợ xâu của NHTM là cần thiết, trên cơ sở đó giúp ngân hàng thu hồi khoản nợ và đảm bảo nguồn vốn hoạt động của NHTM. Vậy nợ xấu và hoạt động mua, bán nợ xấu của NHTM được hiểu là gì? Nợ xấu của NHTM trước hết là một khoản nợ.
Các khoản nợ của NHTM có thể phát sinh từ các hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, nợ xấu của NHTM thường là khoản nợ phát sinh trên cơ sở hoạt động cấp tín dụng của TCTD dưới các hình thức cho vay, cho thuê tài chính, chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng. Theo Uỷ ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS), nợ xấu bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ [42]. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) trong “Hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (IFRS)”, “Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cau lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thé nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thé hoàn trả nợ day đủ (người vay phá sản)” [63].
Ở Việt Nam, pháp luật qui định nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mat vốn) (căn cứ vào Nghị quyết số 42/2017/QH14, Thông tư số 11/2021/TT- NHNN ngày 30/7/2021 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng đề xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông Tư số 11/2021/TT-NHNN). Nợ xấu có thé phát sinh trên cơ sở các hợp đồng trong hoạt động cấp tín dụng của TCTD và hợp đồng mua, bán nợ, trên cơ sở hoạt động mua, ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch trên thị trường giao dịch của các công ty đại chúng chưa niêm yết. Tuy nhiên, nợ xấu của NHTM chủ yếu phát sinh từ hoạt động cho vay của NHTM đối với khách hàng và dựa trên hợp đồng cấp tin dụng được ký kết giữa các chủ thé này. Từ phân tích trên có thé hiểu: Nợ xấu của NHTM là các khoản nợ phát sinh chủ yếu trên cơ sở hoạt động cấp tín dụng của NHTM, đã quá hạn trả nợ từ 90 ngày trở lên và con nợ bị nghỉ ngờ về khả năng trả no.
Nợ xấu có thé gồm số tiền nợ sốc, nợ lãi và các nghĩa vụ tài chính khác liên quan đến khoản nợ mà khách hàng chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho NHTM theo thỏa thuận trong hợp đồng cấp tín dụng. Bản chất của nợ xấu của NHTM là một khoản tiền NHTM đã cho khách hàng vay nhưng chủ nợ - NHTM xác định khả năng không thu hồi lại được do các nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, ví dụ do khách hàng là doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ hoặc phá sản, khách hàng là cá nhân “chây ỳ”, có tinh tau tán tài sản và không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Dựa trên khái niệm về nợ xấu nêu trên, khái niệm về mua, bán nợ xấu của NHTM được hiéu như sau: Mua, bán nợ xấu của NHTM được hiểu là sự thỏa thuận thé hiện thông qua hợp đồng mua, bán nợ được ký kết giữa NHTM (bên bán nợ) và tổ chức, cá nhân mua nợ (bên mua no) về việc chuyên nhượng quyền sở hữu khoản nợ xấu từ bên bán nợ sang bên mua nợ theo các điều kiện, nguyên tac, phương thức va qui trình luật định. 10 Các đặc điểm của mua, bán nợ xấu của NHTM Thứ nhất, hoạt động mua, bán nợ xấu của NHTM được thực hiện bởi đa dạng các chủ thể và thể hiện thông qua hợp đồng băng văn bản (hợp đồng mua, bán nợ), theo đó bên bán nợ bắt buộc phải là NHTM — chủ sở hữu khoản nợ xấu, bên mua nợ là các tổ chức, cá nhân được phép mua, bán, kinh doanh nợ xấu.
Bên mua nợ có thé là các công ty xử lý nợ trực thuộc các TCTD hoặc công ty mua, bán nợ độc lập, các cá nhân được phép mua nợ xấu theo qui định của pháp luật. Đặc biệt, trong số các chủ thé mua nợ xấu của NHTM thì VAMC là tô chức được thành lập chuyên mua, bán nợ xấu của NHTM. TCTD va VAMC thỏa thuận về việc mua, bán nợ trong hợp đồng mua, bán nợ. Ở Nhật Ban, chủ thé chủ yêu tham gia vào hoạt động mua, bán nợ của các TCTD chính là 2 tổ chức: Công ty mua, bán nợ RCC (Resolution and Collection Corporation) và Cơ quan tái thiết công nghiệp IRCJ (Industrial revitalization Corporation of Japan).
Bên cạnh đó còn có sự tham gia của AMC trực thuộc các ngân hàng. Sự ra đời của các chủ thể này xuất phát từ yêu cầu giải quyết hệ quả của cuộc khủng hoảng của Nhật Bản trong thập niên 90 bắt nguồn từ sự đầu cơ 6 ạt vào thị trường chứng khoán và bat động sản trong giai đoạn trước đó tạo nên một “bong bóng” của nền kinh tế. Trước tình hình đó, Nhật Bản đã thi hành chính sách kinh tế khan cấp thông qua việc hoàn thiện chức năng công ty mua, bán nợ RCC (Resolution and Collection Corporation), và thành lập công ty được Chính phủ hỗ trợ vốn dé giúp các công ty đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn tái cấu trúc tình hình tài chính, nhân sự, khoa học — Industrial revitalization Corporation of Japan (IRCJ) [35, tr. Thứ hai, pháp luật qui định về các điều kiện đối với nợ xâu của NHTM khi được mua, bán.
Khoản nợ xấu này phải phát sinh trên cơ sở các hợp đồng trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM hoặc hợp đồng mua, ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch trên thị trường giao dịch của các công ty đại chúng chưa niêm yết. Đối với mỗi chủ thé mua nợ xâu, pháp luật qui định những điêu kiện đặc thù đôi với khoản nợ xâu được 11 mua, bán. Ví dụ, các khoản nợ xấu được mua, bán bởi VAMC phải thỏa mãn điều kiện nhất định như khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm; Khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm phải hợp pháp và có hồ sơ, giấy tờ hợp lệ; Khách hàng vay còn tồn tại; Số dư của khoản nợ xấu hoặc dư nợ xấu của khách hàng vay không thấp hơn mức quy định của Ngân hàng Nhà nước (Điều 8 Nghị định số 53/2013/NĐ-CP). Điều này cho thấy không phải khoản nợ xấu nào của các TCTD cũng được VAMC mua mà chỉ những khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm thì mới thuộc đối tượng mua, bán của VAMC.
TCTD có tỷ lệ nợ xấu từ 3% so với tổng dư nợ tín dụng trở lên phải bán nợ cho VAMC đề đảm bảo tỷ lệ nợ xấu của TCTD ở mức an toàn. Thứ ba, các nguyên tắc mua, bán nợ xấu của NHTM. Khi mua, bán no xấu, các bên mua, bán nợ phải tuân thủ các nguyên tắc chung của xử lý nợ xấu của TCTD và các nguyên tắc đặc thù khi mua, bán nợ xấu của NHTM đối với từng loại chủ thể mua nợ. Các nguyên tắc chung của xử lý nợ xấu là: Bảo đảm công khai, minh bạch, bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp chính đáng của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tô chức mua bán, xử lý nợ xấu và cơ quan, tô chức, cá nhân có liên quan; Phù hợp với cơ chế thị trường trên nguyên tắc thận trọng, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và giữ vững sự én định, an toàn hệ thống: Không sử dụng ngân sách nhà nước dé xử lý nợ xấu; Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật để xảy ra nợ xấu và trong quá trình xử lý nợ xấu phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật [32, Điều 3].
Đối với bên mua, bán nợ xấu là VAMC, các nguyên tắc đặc thù của chủ thể này khi mua, bán nợ xấu bao gồm: Tuân thủ đúng quy định của pháp luật và hợp đồng mua, bán nợ; Hạn chế rủi ro và chi phí trong mua, bán nợ xấu; Việc mua, bán nợ xấu được thực hiện đối với từng khoản nợ xấu hoặc theo từng khách hàng vay trong trường hợp khách hàng vay có nhiều khoản nợ xấu tại một TCTD hoặc theo từng nhóm khách hàng vay trong trường hợp một tài sản bảo đảm cho các khoản nợ xấu của nhiều khách hàng vay tại một tổ chức tín dụng hoặc theo hình thức khác do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật [16, Điều 8]. Có thể thấy, các nguyên tắc mua, bán, nợ xấu của NHTM trước hết nhằm 12 mục tiêu bảo vệ quyền lợi của chủ nợ - các TCTD cho vay, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, hài hòa hóa lợi ích giữa Nhà nước, các ngân hàng (chủ nợ) và bên mua nợ và bảo dam sự an toàn cho các TCTD. Thứ tư, các phương thức mua, bán nợ xấu của NHTM bao gồm phương thức thỏa thuận hoặc đấu giá. Các bên mua, bán nợ xấu có thé thỏa thuận trực tiếp về việc mua, bán nợ xấu trong hợp đồng mua, bán nợ hoặc bên bán nợ ký hợp đồng vol tổ chức dau giá tài sản về dich vụ đấu giá tài sản đối với khoản nợ xấu.