Luận án về thuật ngữ thị trường chứng khoán trong tiếng Việt

Khám phá luận án thuật ngữ về thị trường chứng khoán trong tiếng Việt, cung cấp kiến thức chuyên sâu và phân tích ngữ nghĩa chính xác.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
165
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN

CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ

1.1.1.1. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở nước ngoài

1.2. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam

Tóm tắt

I. Lí do chọn đề tài

Việt Nam đã trải qua quá trình đổi mới từ năm 1986, dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và nhu cầu đầu tư vốn trong xã hội. Thị trường chứng khoán (TTCK) đã ra đời như một phương tiện để mua bán và chuyển nhượng chứng khoán, đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết các lĩnh vực liên quan đến giao dịch tiền tệ và nguồn vốn. Sự phát triển của TTCK đã thu hút sự chú ý của các nhà kinh tế học và các thành phần xã hội. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về thuật ngữ chứng khoán tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về hệ thống thuật ngữ này. Nhiều thuật ngữ trong TTCK chưa được chuẩn hóa, và một số thuật ngữ tiếng Anh chưa có tương đương trong tiếng Việt. Do đó, đề tài "Thuật ngữ thị trường chứng khoán tiếng Việt" được chọn làm hướng nghiên cứu cho luận án này.

II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống thuật ngữ thị trường chứng khoán tiếng Việt, bao gồm các thuật ngữ chính thức được sử dụng trong lĩnh vực này. Phạm vi nghiên cứu sẽ tập trung vào các đặc điểm của hệ thuật ngữ, như phương thức cấu tạo, cách thức định danh và đặc điểm ngữ nghĩa. Việc khảo sát và phân loại các thuật ngữ sẽ giúp xác định rõ hơn về cách thức hình thành và sử dụng thuật ngữ trong TTCK. Điều này không chỉ giúp làm rõ bản chất của các thuật ngữ mà còn góp phần vào việc chuẩn hóa và phát triển hệ thống thuật ngữ trong lĩnh vực tài chính tại Việt Nam.

III. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là chỉ ra những đặc điểm cơ bản và riêng biệt của hệ thuật ngữ chứng khoán tiếng Việt, từ đó đề xuất các định hướng và cách thức xây dựng, phát triển thuật ngữ trong lĩnh vực này. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến thuật ngữ, khảo sát và phân loại các thuật ngữ, tìm hiểu đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của chúng. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở lý luận cho việc chuẩn hóa thuật ngữ, đồng thời góp phần vào việc xây dựng từ điển thuật ngữ thị trường chứng khoán tiếng Việt, phục vụ cho sự phát triển của thị trường tài chính.

IV. Tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Luận án sẽ tiến hành khảo sát các thuật ngữ đã được tập hợp từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, bao gồm từ điển thuật ngữ thị trường chứng khoán Anh - Việt và các công trình nghiên cứu liên quan. Phương pháp nghiên cứu sẽ bao gồm miêu tả, phân tích thành tố, phân tích ngữ nghĩa và thống kê phân loại. Những phương pháp này sẽ giúp xác định rõ các mô hình cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa của thuật ngữ, từ đó đưa ra các biện pháp cụ thể để xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ trong lĩnh vực thị trường tài chính.

V. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án

Luận án không chỉ góp phần vào việc phát triển lý luận về thuật ngữ học mà còn cung cấp các luận cứ khoa học cho việc xây dựng hệ thống thuật ngữ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập. Kết quả nghiên cứu có thể giúp xác định các biện pháp và phương hướng cấu tạo thuật ngữ, đồng thời là cơ sở để biên soạn từ điển thuật ngữ thị trường chứng khoán tiếng Việt. Điều này sẽ phục vụ cho việc giảng dạy và biên soạn giáo trình trong ngành thị trường tài chính, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và nghiên cứu trong lĩnh vực này.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chƣơng đƣợc bố cục nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận Chƣơng 2: Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ thị trƣờng chứng khoán tiếng Việt Chƣơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa và cách định danh của thuật ngữ thị trƣờng chứng khoán tiếng Việt. Chƣơng 4: Một số đề xuất định hƣớng xây dựng và phát triển thuật ngữ thị trƣờng chứng khoán tiếng Việt. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.

Tình hình nghiên cứu thuật ngữ 1. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở nước ngoài Trên thế giới, việc nghiên cứu thuật ngữ theo truyền thống chủ yếu đƣợc chú ý theo các khía cạnh: cấu tạo thuật ngữ, chuẩn hóa thuật ngữ và có vài công trình lí luận về thuật ngữ trong các ngành nhất định, về đặc điểm từ vựng và ngữ pháp của thuật ngữ v. Ở thế kỉ 18, các nghiên cứu về thuật ngữ bắt đầu manh nha với điểm chung cùng có nội dung tạo lập, xây dựng và sơ khai xác định các nguyên tắc cho một số hệ thuật ngữ đặc biệt. Một số tác giả gắn liền với những nghiên cứu đƣợc cho là ngƣời tiên phong trong công tác nghiên cứu thuật ngữ nhƣ Carl von Linné (1736); (Beckmann, 1780); A.

Mặc dù vậy, ý tƣởng về một khoa học thuật ngữ phải đến đầu thế kỉ 20 mới hình thành. Ở thế kỉ này, việc nghiên cứu thuật ngữ mới có đƣợc định hƣớng khoa học và đƣợc công nhận là một hoạt động quan trọng về mặt xã hội. Từ những năm 1930, việc nghiên cứu thuật ngữ thực sự diễn ra một cách đồng thời với những công trình nghiên cứu thuật ngữ của các học giả Liên Xô cũ, Cộng hòa Séc và Áo. Việc nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới đã sớm bắt đầu ngay từ thế kỉ 18.

Các nghiên cứu thời kì đầu này nhìn chung đều tập trung vào việc tạo lập, xây dựng và bƣớc đầu xác định các nguyên tắc cho một số hệ thuật ngữ cụ thể. Tuy nhiên, ý tƣởng về một khoa học thuật ngữ phải đến đầu thế kỷ 20 mới hình thành. Chỉ đến thế kỉ 20, việc nghiên cứu thuật ngữ mới có đƣợc định hƣớng khoa học và đƣợc công nhận là một hoạt động quan trọng về mặt xã hội. Việc nghiên cứu thuật ngữ ở thế kỉ 20 thực sự diễn ra từ những năm 1930 một cách đồng thời nhƣng độc lập bởi các học giả ngƣời Áo, Liên Xô cũ và Cộng hòa Séc.

Những nghiên cứu này đƣợc coi là nền tảng cho sự khởi đầu của ngành khoa học thuật ngữ trên thế giới. Nhìn chung quá trình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới theo ba xu hƣớng: thuật ngữ và sự phù hợp với hệ thống ngôn ngữ, thuật ngữ trong dịch thuật và thuật ngữ trong kế hoạch hóa ngôn ngữ. Dƣới đây, xin tập trung tìm hiểu hƣớng nghiên cứu thuật ngữ trong sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống ngôn ngữ bởi vì điều đó liên quan trực tiếp đến đề tài luận án. 5 Khi nói tới hƣớng nghiên cứu thuật ngữ theo sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống ngôn ngữ, không thế không nhắc tới ba trƣờng phái và cũng là ba cái nôi nghiên cứu thuật ngữ: Áo, Liên Xô và Cộng hòa Séc.

1/ Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Áo Trƣờng phái này gắn liền với tên tuổi của E.Wuster (1898-1977), ngƣời không chỉ đƣợc coi là đã tạo nên diện mạo của công tác nghiên cứu và phát triển thuật ngữ hiện đại ở thế kỉ 20, mà còn có ảnh hƣởng rất lớn đến việc nghiên cứu thuật ngữ của nhiều học giả sau này. Trong tác phẩm Lí luận chung về thuật ngữ của Wuster (1931), các phƣơng pháp nghiên cứu thuật ngữ theo những nguyên tắc nhất định đã đƣợc trình bày rất rõ ràng. Trong tác phẩm của mình (1931), ông đã đề cập đến những khía cạnh ngôn ngữ học của công tác nghiên cứu thuật ngữ liên quan đến hệ thống tên gọi của lĩnh vực kĩ thuật. Đáng chú ý là các tranh luận của ông về việc hệ thống hóa các phƣơng pháp nghiên cứu thuật ngữ, đƣa ra một số nguyên tắc khi sử dụng thuật ngữ và chỉ ra những điểm chính của phƣơng pháp xử lí ngữ liệu thuật ngữ.

Công trình của ông đã đƣợc Leo Weisgeber (1975) đánh giá nhƣ là một cột mốc của ngôn ngữ học ứng dụng. Đặc điểm quan trọng nhất của trƣờng phái nghiên cứu thuật ngữ Áo là tập trung vào các khái niệm và hƣớng việc nghiên cứu thuật ngữ vào chuẩn hóa các thuật ngữ và các khái niệm. Tầm quan trọng của trƣờng phái này là đã phát triển một kho tàng lí luận gồm các nguyên tắc và các phƣơng pháp tạo nền tảng cơ bản cho nghiên cứu lí luận và thực tiễn. Việc nghiên cứu của trƣờng phái này xuất phát từ nhu cầu của các nhà kĩ thuật và các nhà khoa học là chuẩn hóa thuật ngữ trong lĩnh vực của họ để đảm bảo sự giao tiếp hiệu quả và có thể truyền tải kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn.

Những nguyên tắc về nghiên cứu thuật ngữ trong trƣờng phái nghiên cứu thuật ngữ Áo đƣợc phản ánh trong các tài liệu về chuẩn hóa từ vựng của thuật ngữ. Đa số các nƣớc vùng Trung Âu và Bắc Âu (Áo, Đức, Na Uy, Thụy Sĩ, Đan Mạch) đều nghiên cứu thuật ngữ theo hƣớng này. 2/ Trường phái thuật ngữ học của Cộng hòa Séc Đại diện tiêu biểu của trƣờng phái này là L.Drodz - một trong những ngƣời khởi xƣớng và phát triển từ cách tiếp cận ngôn ngữ về mặt chức năng của trƣờng phái ngôn ngữ học Praha. Trong nghiên cứu, các nhà khoa học trƣờng phái này quan tâm đặc biệt đến việc miêu tả cấu trúc và chức năng của các ngôn ngữ chuyên ngành, trong đó thuật ngữ đóng vai trò quan trọng.

Họ xem thuật ngữ nhƣ là những đơn vị tạo nên văn phong nghề nghiệp mang tính chức năng. Nó ra đời do kết quả của bản chất đa ngôn 6 ngữ trong khu vực địa lí của nó. Có thể nói, mối quan tâm nhất của trƣờng phái này cũng là vấn đề chuẩn hóa các ngôn ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ. Các ngôn ngữ chuyên ngành theo trƣờng phái này đƣợc coi là mang tính văn phong nghề nghiệp tồn tại cùng những văn phong khác nhƣ văn học, báo chí và hội thoại.

3/ Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Nga Xô viết Đây là trƣờng phái đƣợc hình thành dựa trên các công trình nghiên cứu của Lotte, Drezen, Caplygil và các cộng sự. Ngay từ thời kì đầu, trƣờng phái này chịu ảnh hƣởng bởi công trình nghiên cứu về thuật ngữ của của Wuster. Vì vậy cũng nhƣ trƣờng phái nghiên cứu thuật ngữ của Áo, trƣờng phái thuật ngữ xô viết chủ yếu nghiên cứu về vấn đề chuẩn hóa các khái niệm và các thuật ngữ trên tinh thần của những vấn đề liên quan đến chủ nghĩa đa ngôn ngữ của Liên bang xô viết. Ngay sau khi luận án của Wuster đƣợc dịch sang tiếng Nga, đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.

Có thể nói, công tác nghiên cứu thuật ngữ ở Liên Xô từ những những năm 1930 trở đi phát triển rất mạnh mẽ và thu đƣợc những thành tựu rực rỡ: “Về thuật ngữ học ở Nga, trong vòng một thế kỉ, đã xuất bản, công bố hàng chục sách chuyên khảo, giáo trình, giáo khoa, hàng nghìn bài báo (gần 1600 bài báo), hàng nghìn từ điển (từ 1950 đến 1979 đã xuất bản 1650 từ điển thuật ngữ). Nhiều hội nghị, hội thảo về những vấn đề lí luận, phương pháp nghiên cứu và những hoạt động thực tiễn trong khoa học về thuật ngữ được tổ chức; hàng năm có nhiều luận án tiến sĩ, phó tiến sĩ được bảo vệ ở các cơ sở nghiên cứu, các trường đại học trong cả nước. Nhiều công trình nghiên cứu về thuật ngữ học của các tác giả người Nga được dịch và xuất bản ở nước ngoài” [67, 12]. Một đại diện tiêu biểu của trƣờng phái nghiên cứu thuật ngữ Xô viết là Lotte (1898-1950).

Với công trình nghiên cứu Những vấn đề gây bức xúc trong trường thuật ngữ khoa học và kĩ thuật, ông đƣợc coi là ngƣời đứng đầu trong công tác phát triển hệ thuật ngữ hiện đại của Nga. Kulebakin (1993) đã nhận xét rằng mặc dù Lotte không phải là ngƣời duy nhất nhƣng lại là ngƣời để lại ảnh hƣởng cho công tác phát triển thuật ngữ về mặt lí thuyết. Lotte đã tạo ra nền móng về mặt lí thuyết và phƣơng pháp cho công tác thuật ngữ của Liên Xô. Theo Kulebakin, quan điểm của Lotte có thể tóm tắt thành ý cơ bản sau đây: “Hệ thuật ngữ là toàn bộ các thuật ngữ phù hợp với hệ thống khái niệm của một lĩnh vực khoa học hay kĩ thuật nào đó.

Hệ thống thuật ngữ thể hiện cái gọi là hệ thống khái niệm”. Một ý tƣởng đƣợc coi là trùng hợp hoàn toàn với quan điểm của Wuster [56, 8]. Một đặc điểm khá quan trọng của công tác phát triển thuật ngữ của Liên Xô là thu hút các nhà ngôn ngữ học vào công tác nghiên cứu cơ bản về thuật ngữ từ rất 7 sớm. Trong đó có thể tìm thấy các công trình nghiên cứu của A.

Nhƣ vậy, cả ba trƣờng phái nói trên đều có chung quan điểm là nghiên cứu thuật ngữ dựa trên ngôn ngữ học, họ đều xem thuật ngữ nhƣ là một phƣơng tiện để diễn đạt và giao tiếp. Vì vậy cả ba trƣờng phái đã hình thành cơ sở lí thuyết về thuật ngữ và những nguyên lí mang tính phƣơng pháp chi phối những ứng dụng của thuật ngữ. Bên cạnh đó, những trƣờng phái này là một trong những động lực chính cho việc phát triển những hƣớng nghiên cứu thuật ngữ sau này -đó là thuật ngữ đƣợc nghiên cứu theo hƣớng dịch thuật và kế hoạch hóa ngôn ngữ. 4/ Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Cộng hòa Liên bang Đức Có thể nói, việc xây dựng hệ thuật ngữ ở Cộng hòa Liên bang Đức có những bƣớc tiến đáng kể.

Công việc này ở Cộng hòa Liên bang Đức gồm hai loại: - Những nghiên cứu mang tính hệ thống - Những nghiên cứu mang tính nhất thời. Theo các nhà thuật ngữ học ở Cộng hòa Liên bang Đức thì có những yếu tố sau đây đƣợc coi là mang tính chất quyết định đối với công tác thuật ngữ trong thực tiễn, chi phối rất mạnh kết quả của công tác này: 1. Mục đích của công việc; 2. Mạng lƣới các cộng tác viên; 4.

Thời gian thực hiện; 5. Kĩ thuật xử lí dữ liệu; 7. Yếu tố kinh tế; 8. Kế hoạch đào tạo các nhà thuật ngữ học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về thuật ngữ thị trường chứng khoán trong tiếng Việt" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực chứng khoán, giúp người đọc hiểu rõ hơn về ngôn ngữ và cách thức hoạt động của thị trường này. Luận án không chỉ phân tích các thuật ngữ mà còn chỉ ra tầm quan trọng của việc sử dụng chính xác ngôn ngữ trong giao dịch chứng khoán, từ đó nâng cao khả năng giao tiếp và hiểu biết cho các nhà đầu tư và chuyên gia tài chính.

Để mở rộng thêm kiến thức về thị trường chứng khoán, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ về tác động của các yếu tố đến chỉ số giá chứng khoán VN-Index, nơi phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số chứng khoán, hay Nghiên cứu nhân tố tác động đến tính thanh khoản cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về tính thanh khoản trong giao dịch chứng khoán. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ về tổ chức và hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về cách thức hoạt động của các quỹ đầu tư, một phần quan trọng trong thị trường chứng khoán. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực chứng khoán và các yếu tố liên quan.