Chương 1: Tổng quan về nợ xấu và công tác quản trị nợ xấu tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng quản trị nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam Chương 3: Giải pháp tăng cường quản trị nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam Luan van 7 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Hoạt động tín dụng và nợ xấu tại NHTM 1. Khái niệm, bản chất, vai trò và các hình thức tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng (credit), xuất phát từ tiếng Latinh là credo – là sự tin tưởng, sự tín nhiệm.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Kiều thì “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”. Theo khoản 14, điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Tín dụng ngân hàng có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng về cơ bản chứa đựng ba nội dung sau: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng - Sự chuyển nhượng này có thời hạn. - Sự chuyển nhượng dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Bản chất tín dụng ngân hàng Bản chất tín dụng của ngân hàng là sự vận động của vốn tiền tệ thông qua các ngân hàng. Ngân hàng bằng các nghiệp vụ và hình thức huy động vốn khác nhau huy động lượng tiền nhàn rỗi trong lưu thông, tạo thành nguồn vốn lớn. Đồng thời ngân hàng sử dụng chính nguồn vốn này để đem cho vay với lãi suất lớn hơn lãi suất tiền gửi. Là trung gian nên ngân hàng là cầu nối giữa người có vốn và người cần vốn hay nói cách khác việc sử dụng nguồn vốn trong các doanh nghiệp nói riêng và trong nền kinh tế nói chung được ngân hàng điều hòa sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao.
Như vậy, ngân hàng bằng hoạt động của mình đã góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong xã hội, thông qua chức năng tạo tiền ngân hàng có thể nhận nguồn tiền gửi tăng trưởng theo bội số tạo tiền. Qua đó ngân hàng sẽ được hưởng phần chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi. Vai trò của tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Nó thúc đẩy sản xuất và lưu thông phát triển, góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng.
Tín dụng ngân hàng là công cụ điều hòa lưu thông tiền tệ và thông qua đó điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng có chức năng huy động vốn và tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi để đưa vào sử dụng. Cụ thể: - Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn để duy trì quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục và ngày càng mở rộng. - Tín dụng ngân hàng tác động có hiệu quả đến nhịp độ phát triển, thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế và góp phần tạo nên một cơ cấu kinh tế hợp lí.
- Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ đắc lực cho các ngành kinh tế kém phát triển và những ngành kinh tế mũi nhọn. - Tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa kinh tế trong nước với nước ngoài thúc đẩy quá trình mở rộng, tăng cường mối quan hệ hợp tác kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Các hình thức tín dụng ngân hàng Căn cứ theo thời hạn tín dụng: Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân. Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng.
Cho vay trung hạn chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất. Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng. Cho vay dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để tài trợ các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. Căn cứ vào đối tượng khách hàng: Tín dụng khách hàng cá nhân: cấp tín dụng cho cá nhân có nhu cầu vay vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng hoặc trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua việc phát hành thẻ tín dụng.
Luan van 9 Tín dụng khách hàng là các tổ chức kinh tế - xã hội: bao gồm các DNNN, các DNTN, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các công ty tài chính, các công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng, và các định chế tài chính khác. Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng: Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. Cho vay gián tiếp: là khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc các chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Căn cứ theo phương thức cho vay: Cho vay thấu chi: Thấu chi là nghiệp vụ cho vay trong đó ngân hàng cho phép người vay được chi vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một thời hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định.
Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi. Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay của ngân hàng cho khách hàng vay không thường xuyên. Người vay sẽ phải làm hồ sơ vay vốn cho từng lần vay với lãi suất, thời hạn trả tiền và số tiền vay xác định. Cho vay theo hạn mức: là hình thức cho vay trong đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng.
Hình thức cho vay này rất thuận tiện cho khách hàng vay mượn thường xuyên. Cho vay trả góp: là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn cho vay đã thỏa thuận. Các loại khác: bao gồm vay theo dự án đầu tư, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Theo tài sản đảm bảo: Tín dụng không có tài sản đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng.
Hình thức cho vay này chỉ áp dụng cho khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính lành mạnh,… Luan van 10 Tín dụng có tài sản đảm bảo: là loại cho vay có tài sản đảm bảo nợ vay thông qua các hợp đồng thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh. Tài sản đảm bảo nợ vay có thể là tài sản đã có chủ quyền hợp pháp hình thành trước khi có giao dịch tín dụng hoặc có thể hình thành từ vốn vay. Theo mục đích vay vốn: Tín dụng bất động sản, xây dựng: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản như nhà ở, đất đai, nhà xưởng, các bất động sản khác trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Tín dụng công nghiệp, thương mại và dịch vụ: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
Tín dụng nông nghiệp và lâm nghiệp: là loại hình cho vay để trang trải các chi phí sản xuất nông nghiệp như phân bón,thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, nhiên liệu, lao động,… Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng được cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Loại tín dụng này thường được dùng để mua sắm nhà cửa, xe cộ, các thiết bị gia đình,… Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hướng tăng lên. Tổng quan về nợ xấu trong hoạt động tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm nợ xấu Nợ xấu hay nợ khó đòi thường được nhắc đến với các thuật ngữ “bed debt”, “non-performing loans” (NPL), “doubtful debt”.
Thuật ngữ “bed debt” là một thuật ngữ được dùng khá phổ biến trên báo chí còn trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, các chuyên gia thường sử dụng thuật ngữ “non-performing loans” , trong khi kế toán quốc tế hay dùng thuật ngữ “non-accrual loans” (theo hệ thống chuẩn mực kế toán của Mỹ US GAAP) hay “impaired loans” (Theo chuẩn mực quốc tế IAS 39). Tuy nhiên, hiện nay đang tồn tại khá nhiều khái niệm nợ xấu khác nhau. Có thể nhắc tới một số khái niệm nợ xấu như sau: Theo Ngân hàng thế giới: “Nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm các khoản nợ quá Luan van 11 hạn trả lãi và/hoặc gốc thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp” Theo Ngân hàng Trung ương Liên minh Châu Âu: “Nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của NHTM không chỉ có những khoản vay quá hạn thông thường không có khả năng thu hồi theo hợp đồng mà còn có các khoản nợ chưa quá hạn nhưng tiềm ẩn các rủi ro dẫn đến việc có thể không thanh toán đầy đủ gốc và lãi cho Ngân hàng”.
Theo Phòng thống kê – Liên hiệp quốc: “Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Khái niệm nợ xấu của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS): BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu.