CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ XỬ LÝ NỢ XẤU THEO GIÁ TRỊ THỊ TRƯỜNG TẠI VAMC 1. Tổng quan về nợ xấu của các Tổ chức Tín dụng. Các định nghĩa về nợ xấu Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, tác giả nhận thấy đề tài nợ xấu có khá nhiều các nghiên cứu, từ đó có các khái niệm, phân loại nợ xấu, nguyên nhân xuất hiện nợ xấu và những hệ lụy tác động đến nền kinh tế, cách thức triển khai thu, đòi nợ xấu. Mặc dù vậy, những tài liệu chưa đưa ra một cách dễ hình dung, đầy đủ về khái niệm nợ xấu, tiêu chí và hướng dẫn phân loại nợ xấu đầy đủ, dễ áp dụng trong điều kiện thị trường nước ta.
Nguyên nhân do có tính khác biệt về đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước. Mỗi quốc gia có phương pháp xếp hạng trả nợ, chuẩn mực kế toán, năng lực và tính toàn vẹn của cơ quan quản lý, giám sát và hiệu lực thực thi của các quy định khác nhau. Vậy nên hình thức phân loại và xử lý nợ xấu của từng nước cũng khác nhau. Đối với các công trình nghiên cứu và báo chí quốc tế, nhắc đến nợ xấu thông thường dùng khái niệm "“bad debt”, “non-performing loan” viết tắt là NPL, hoặc “doubtful debt”".
Trong thị trường tài chính, ngân hàng sẽ thường dùng " “non- performing loans” (NPL). Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS39 thì gọi nợ xấu là “impaired loans” ". Kế toán Mỹ gọi nợ xấu là “non-accrual loans”. Thực tế cho thấy, nợ xấu có nhiều khái niệm theo quan điểm quản lý, đặc thù ngành và vị trí địa lý của quốc gia.
Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Liên hợp quốc (nhóm chuyên gia tư vấn – AEG) thì nói rằng "Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ" 1. Ủy Ban Basel về giám sát ngân hàng nói rằng: "đó là khoản nợ đã quá hạn và 1 Nguồn:Tạp chí Khoa học Công nghệ (số ra ngày 1.2015 của tác giả Đinh Mai Long, trang 34,35) 7 ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi" 2 và không đề cập tới thời hạn quá hạn: "họ không đưa ra thời gian quá hạn thanh toán khi một khoản nợ được xem là “xấu” như một số các quốc giá ví dụ như: thời gian chậm thanh toán là 30-89 ngày, 90-179 ngày, trên 180 ngày" Đối với Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) căn cứ chủ yếu các tiêu chí của BCBS khái niệm về nợ xấu như sau "một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và nợ gốc trên 90 ngày trở lên hoặc có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Với định nghĩa này phù hợp với tinh thần định nghĩa nợ xấu của Basel II nêu trên". Tóm lại: Theo các định’nghĩa trên, trong cách nhìn nhận, định nghĩa về khoản nợ xấu cũng đã có các điểm chung.
Theo đó, có thể thấy khi khoản nợ được xem là nợ’xấu khi nó không’có khả năng’sinh lời’hoặc không thu hồi được khi đến hạn, chúng có một trong các dấu hiệu: Một là quá’hạn’trả’nợ’gốc,’lãi; Hai là khi người đi vay bị’coi là giảm hoặc mất hoàn toàn khả’năng thanh toán, không có phương án thanh toán được các nghĩa vụ nợ. Phân loại các khoản nợ xấu Được hiểu là việc các TCTD căn cứ vào các tiêu chuẩn, quy định mang tính chất định tính và định lượng để đánh giá’mức độ rủi’ro của một khoản nợ và những cam kết ngoại’bảng, từ đó phân loại các khoản’nợ vào các nhóm nợ thích hợp. Việc quản lý và phân loại các khoản’nợ sẽ giúp các TCTD kiểm soát các danh mục nợ và có biện pháp xử lý phù hợp. Theo như thông tin tại hệ thống phát luật doanh nghiệp tại địa chỉ https://htpldn.vn có nêu "Thông thường tại các NHTM hiện nay, các khoản’nợ tương đồng về mức rủi’ ro và khả’năng không trả’được’nợ được phân vào cùng một nhóm.
Tùy thuộc vào phương pháp quản lý và quy định, từng quốc gia sẽ có cách thức phân loại nhóm nợ xấu và bao nhiêu loại nợ xấu, ví dụ như ở Mỹ: 5 nhóm; Brazil: 9 nhóm; Mexico: 7 nhóm; Singapore: 5 nhóm; Việt Nam: 5 nhóm". Tại Việt Nam, việc phân loại nợ xấu đang được quy định tại thông tư 2 Nguồn:Tạp chí Khoa học Công nghệ (số ra ngày 1.2015 của tác giả Đinh Mai Long, trang 34,35) 8 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 (dưới đây gọi tắt là thông tư 11/2021), thông tư quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo quy định việc thực hiện phân loại nợ theo hai phương pháp định lượng và định tính, cụ thể: Phương pháp định lượng: Quy định tại điều 10, thông tư 11 nêu rõ "Trường hợp phân loại nợ theo phương pháp định lượng bao gồm 5 nhóm’nợ: Nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn. Trong đó nợ xấu là nợ nhóm 3, 4 và 5"; chi tiết về các nhóm nợ xấu gồm: "Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn): Gồm nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Nợ gia hạn lần đầu; Nợ được miễn giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi: Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 3, 4, 5, 6 Điều 126 Luật các tổ chức tín dụng, Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 127 Luật các tổ chức tín dụng, Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 5 Điều 128 Luật các tổ chức tín dụng; Nợ trong thời gian thu hồi theo kết luật thanh tra; Nợ phải phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 10 và Khoản 4 Điều 8 Thông tư này.
Đây là những khoản nợ được cho là có khả năng tổn thất". Nhóm 4 (nợ nghi ngờ): Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, nhưng lại tiếp tục quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được. Nợ phải phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại "khoản 2, 3 Điều 10 và Khoản 4 Điều 8 Thông tư này nêu rõ đây là những khoản nợ được cho là có tổn thất cao". "Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn): gồm nợ quá hạn trên 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, nhưng lại tiếp tục quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai nhưng lại quá hạn trả nợ từ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã bị quá hạn; Khoản nợ đã quá hạn thu hồi trên 60 ngày phải thu hồi theo kết luận của thanh tra; Khoản nợ đã quá hạn phải thu hồi trên 60 ngày theo quyết 9 định thu hồi nợ trước hạn của TCTD; Khoản nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng đang được kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang bị phong tỏa vốn và tài sản; Khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3 Điều này và khoản 4 Điều 8 thông tư này.
Đây là những khoản nợ không còn khả năng thu hồi, mất vốn". Phương pháp định tính: Quy định tại điều 11, thông tư 11 nêu rõ "Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn): Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất. Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết; Nhóm 4 (nợ nghi ngờ): Các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao.
Các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng không thực hiện cam kết là rất cao; Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn cao): Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Các cam kết ngoại bảng mà khách hàng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết". Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 (sửa đổi thông tư 02/2013 về phân loại tài sản có và trích lập dự phòng rủi ro, sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài), đã có nhiều sửa đổi bổ sung theo hướng tích cực, nhằm tạo cơ sở áp dụng, hành’lang’pháp’lý và hỗ trợ cho TCTD trong’hoạt’động quản lý’nợ’xấu. Theo đó, thông tư 11/2012/TT-NHNN nói rõ ràng hơn so với thông tư số 02/2013/TT-NHNN.
Thông tư 11 đã giới hạn việc áp dụng đối với các TCTD đang được kiểm soát đặc biệt. Nội dung nêu này " Phù hợp’hơn với thực’tế của tình trạng của các TCTD tại Việt Nam. Phạm vi áp dụng của thông tư 11 còn mở rộng hơn so với thông tư 02/2013, cụ thể đó là phân loại nợ áp dụng cho mua nợ, mua bán lại trái phiếu chính phủ, mua giấy tờ có giá của các TCTD phát hành. Tần suất phân’loại’nợ và trích’lập’dự phòng tăng từ “tối thiểu hàng quý” lên “tối thiểu hàng tháng” ".
Đây có thể xem là điểm thay đổi lớn nhất của thông tư này. Với quy’định này các TCTD 10 sẽ tự đánh giá’chất lượng’của’khoản nợ và thực hiện phân loại nhóm nợ, trích’lập’dự phòng’tích cực hơn và sớm hơn. Sẽ tạo cho các TCTD tâm lý chủ động hơn, đẩy nhanh việc xử lý nợ hơn góp phần giảm tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống.