CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ KỸ NĂNG TÁC NGHIỆP CỦA NHÀ BÁO VÀ DAC DIEM CHUNG VE DE TÀI NO XÁU 1. Một số khái niệm cơ ban của đề tài 1. Khái niệm kỹ năng và kỹ năng tác nghiệp của nhà báo Khái niệm về kỹ năng: Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về “kỹ năng”. Những định nghĩa này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của từng người.
Tuy nhiên hầu hết các ý kiến đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành khi nó được áp dụng những kiến thức về một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn đời sống xã hội. Kỹ năng có được là do quá trình lặp di lặp lại một hoặc một chuỗi hành động nhất định nào đó. Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng. Như vậy, kỹ năng là năng lực (khả năng) của chủ thé thực hiện một cách thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi.
Khi kỹ năng được lặp đi lặp lại đến độ thuần thục thì được gọi là chuyên nghiệp. Tính chuyên nghiệp được hiểu như một sự chuyên tâm vào công việc chuyên biệt nào đó, đầu tư cho nó, dành sức cho nó, hoạt động trong phạm vi đó cả chiều sâu lẫn chiều rộng. Và như thế, những hoạt động mang tính chuyên nghiệp đều có thê đạt được hiệu quả cao nhất trong công việc. Song hành cùng với nền tảng kiến thức vững chắc về nghiệp vụ báo chí và trong một tong thé hệ thống các kỹ năng của nhà báo thì kỹ năng giao tiếp được xem là kỹ năng nền tảng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hoạt động tác nghiệp của nhà báo: Từ kỹ năng giao tiếp, tiếp xúc cơ sở lấy tư liệu, phỏng vấn đối tượng, kỹ năng xử lý tình huống.
đến hình thành ý tưởng đề tài và hoàn thành tác phâm báo chí dé phản ánh tới công chúng. Những kỹ năng này đề thể hiện khả năng nhận biết vấn đề, xử lý thông tin, cách sử dụng ngôn ngữ báo chí của từng thé loại để diễn đạt ý tưởng, giúp cho người tiếp nhận thông tin hiểu rõ, nắm bắt được nhiều thông tin. Việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa kỹ năng giao tiếp với nghiệp vụ báo chí là điều kiện để nhà báo đạt được hiệu quả trong công việc va thành công trong sự 13 nghiệp. Khả năng giao tiếp của nhà báo càng tốt thì thông tin thu nạp được càng nhiều, truyền tải đến công chúng càng hiệu quả.
Khi tác nghiệp, nhà báo luôn luôn phải thận trọng, đối với nhà báo kinh tế cũng vậy, nhất là khi viết về vấn đề nợ xấu — một vấn đề được cho là vô cùng nhạy cảm của ngành ngân hàng thì ngoài những kỹ năng chuyên biệt, kỹ năng giao tiếp với nguồn tin, giao tiếp với công chúng lại càng quan trọng hơn cả. Nhà báo không chỉ trang bị cho mình những kỹ năng cứng, mà còn phải có những kỹ năng mềm, đứng đầu vẫn là nền tảng trí thức. Tiếp đó, nhà báo không chỉ dừng ở việc thu thập thông tin và phản ánh dit liệu, khi tác nghiệp về van đề nợ xấu, cần phải biết cách đọc và phân tích báo cáo; phân tích dữ liệu từ những con số cơ học, dé chỉ ra những vấn đề có thê dẫn đến nợ xấu. Nhà báo cần phải trang bị cho bản thân những kỹ năng nhìn nhận và đánh giá các vấn đề liên quan.
Khi tác nghiệp về vấn đề nợ xấu, nhà báo cần phải chỉ ra những tác động của tình hình tài chính có thé dẫn đến rủi ro về nợ xấu; chỉ ra những nguyên nhân có thê dẫn đến tình trạng nợ xấu và hậu quả có thé phải hứng chịu khi mắc vào nợ xấu. Nhà báo đồng thời có kha năng đưa ra những giải pháp, giúp người dân, doanh nghiệp đề cao cảnh giác, có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng bị rơi vào nợ xấu. Điều quan trọng hơn cả là nhà báo cần phải có kỹ năng cảnh báo nguy cơ rủi ro tiềm ân đối với tình hình tài chính, kinh tế của một doanh nghiệp, một TCTD nói riêng hay của cả hệ thống ngân hàng nói chung. Kỹ năng tác nghiệp của nhà báo: Trong cuôn “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại” của nhà báo, TS Nguyễn Thành Lợi có đề cập đến vai trò kỹ năng viết báo.
Tại đây, ông nhận định rằng công tác đào tạo báo chí trong môi trường truyền thống đã không còn thích nghỉ với môi trường hiện đại ngày nay. Ông đã chứng minh bằng một loạt dẫn chứng trên thế giới, cụ thé như: Các nhà nghiên cứu của trường Đại học South Florida (Mỹ) từng có một cuộc điều tra về van đề kỹ năng nao là quan trọng nhất đối với một phóng viên. Kết quả cho thấy, mặc dù tồn tại nhiều nhân tố kỹ thuật tác động đến chất lượng sản phẩm truyền thông, nhưng hau hết những người được phỏng vấn đều cho rang, viết báo tốt là một kỹ năng phóng viên cần phải có. Điều đáng chú ý là, hiện nay kỹ 14 năng mà sinh viên tốt nghiệp tại các học viện báo chí cần không phải là kỹ năng viết báo thông thường, mà là kỹ năng viết báo đa phương tiện.
Chỉ khi nắm chắc các kỹ năng viết báo đa phương tiện, sinh viên mới thích nghi được với quy trình sản xuất báo chí hội tụ cùng lúc thu thập dữ liệu, tường thuật sự kiện đa phương tiện, đưa tin đa phương tiện. Đài truyền hình trực thuộc hãng truyền hình PBS ở bang Ohio (Mỹ) cho đăng tin tuyển dung và yêu cầu người nộp hé sơ cần thỏa mãn các điều kiện sau: Sản xuất được những báo cáo có chất lượng cao, kịp thời, sát vấn đề trên kênh phát thanh, truyền hình và mạng internet, đồng thời được công chúng đánh giá và thiết thực; Có thé tiến hành phỏng van và đưa tin cùng lúc trên đài phát thanh, đài truyền hình và mạng internet; Thành thạo kỹ năng điều tra nghiên cứu, xây dựng chương trình và theo dõi, bám sát dòng sự kiện dé đưa tin; Có khả năng sản xuất chương trình phát thanh và truyền hình, hoặc mong muốn được đảo tạo trong lĩnh vực này; Có phong cách viết tin ngăn gọn, súc tích, nếu người nộp đơn tuyên dụng là phóng viên chuyên làm báo in thì cần có nguyện vọng tham gia các khóa dao tạo dé nam được các kỹ năng trên. Các dẫn chứng trên đây cho thấy, yêu cầu tuyển dụng của các hãng truyền thông lớn đều nhấn mạnh người tham gia tuyển dụng phải có kỹ năng viết tốt. Người tham gia tuyển dụng không nhất thiết phải giỏi hơn người khác mọi kỹ năng trong lĩnh vực báo chí - truyền thông, nhưng phải nắm được kỹ năng viết cho báo in, truyền hình và báo điện tử, đây là thế mạnh trong quá trình tìm việc trong ngành báo chí truyền thông hiện nay.
Nhà báo chuyên nghiệp là người biết đầu tư trí tuệ, công sức, khả năng và kỹ năng cho công việc viết báo của mình sao cho có hiệu quả cao nhất, thành công nhất. Bên cạnh những “kỹ năng cứng” được đảo tạo một cách cơ bản như biết cách săn tin, làm việc với nguồn tin, phỏng vấn, viết tin bài, theo dõi tường thuật chuyên ngành. Nhà báo còn cần phải có những “kỹ năng mềm” dé có thé thực hành các kỹ thuật đa phương tiện trong báo chí như ghi âm, chụp ảnh, quay phim, xử lý ảnh, xử lý âm thanh, dựng phim. Không dừng lại ở đó, khi cần thiết nhà báo còn có thê thực hiện các nghiệp vụ của biên tập viên như: biên tập nội dung, biên tập logic, biên tập 15 bản thảo, biên tập trình bày; Hay có khả năng tổ chức sản xuất hoặc tham gia vào các khâu sản xuất các sản phẩm báo chí (sản phẩm báo chí đa phương tiện) theo yêu cầu; Khả năng ứng xử một cách linh hoạt trong nhiều tình huống, kỹ năng làm việc nhóm đề đạt hiệu quả cao nhất.
Tuy nhiên, nghề báo được xem là một nghề của nhiều nghề nên khó có tiêu chí nào, kỹ năng nào dé vận dụng như một công thức bat di bat dich. Vì vậy nha báo cần có sự linh hoạt mà chính tính linh hoạt vận dụng kỹ năng cũng là một kỹ năng. Nhà báo đôi khi cần có sự khôn khéo mềm mỏng như một nhà ngoại giao, nhưng cũng có khi nhà báo cũng phải bụi bặm dẫn thân như một tay chơi có hạng. Có khi nhà báo cầu ky chin chu đến từng chỉ tiết nhỏ nhất, nhưng cũng có khi phải chấp nhận những gi có thực trong điều kiện eo hẹp nào đó dé mà tác nghiệp.
Nhà báo đôi khi phải có trái tim nóng, song nhiều khi cũng cần cái đầu lạnh dé nhận định vấn dé, tránh dé tình cảm cá nhân làm anh hưởng công việc của mình, tất cả vì mục đích thông tin khách quan, trung thực nhất. Khái niệm về các nhóm nợ và nợ xấu Khải niệm về các nhóm nợ: Phân loại các nhóm nợ là việc các TCTD căn cứ vào các tiêu chuẩn định tính và định lượng để đánh giá mức độ rủi ro của các khoản vay, trên cơ sở đó phân loại các khoản nợ vào các nhóm nợ thích hợp. Theo Ngân hàng thanh toán Quốc tế (BIS) thì các khoản nợ được phân loại như sau: (1) Nợ đủ tiêu chuẩn: Khoản vay có khả năng được thanh toán. (2) Nợ cần chú ý đặc biệt: Các khoản cho vay với doanh nghiệp mà có thể có khó khăn trong việc thu hồi.
(3) Nợ dưới chuẩn: Những khoản cho vay mà tiền lãi hoặc gốc thanh toán đã quá hạn 3 tháng. Ngân hàng sẽ trích tỷ lệ 10% dự phòng cho các khoản vay bị xếp vào loại đưới chuẩn. (4) Nợ nghỉ ngờ: Là những khoản vay có nghi ngờ trong việc thanh toán và được xác định là sẽ gây ra ton thất. Ngân hàng trích tỷ lệ dự phòng là 50% cho các khoản cho vay có nghỉ ngờ.
(5) Nợ có khả năng mat vốn: Các khoản nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi được áp dụng các biện pháp bảo vệ theo luật phá sản. Các ngân hàng sẽ trích tỷ lệ dự phòng là 100% cho các 16 khoản vay này. Với cách phân loại nợ của BIS, thì nợ xấu là các khoản nợ thuộc 3 nhóm cuối và chúng sẽ được đánh giá theo mức độ khó khăn khi thu hồi. Phân loại nợ theo Ngân hàng Trung Ương Nhật Bản (BOJ) thi có sự khác biệt rõ rệt.