phần mở đầu, kết luận, mục lục và các tài liệu tham khảo thì luận văn đƣợc kết cấu bao gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1 Lý luận chung về xử lý nợ quá hạn tại các ngân hàng. Chƣơng 2 Thực trạng xử lý nợ quá hạn của Ngân hàng TMCP Quân Đội Chi nhánh An Phú. Chƣơng 3 Kiến nghị và đề xuất nâng cao kết quả xử lý nợ quá hạn của Ngân hàng TMCP Quân Đội Chi nhánh An Phú. 1 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN TẠI CÁC NGÂN HÀNG 1.1 TỔNG QUAN VỀ NỢ QUÁ HẠN 1.1 Khái niệm nợ quá hạn, tỷ lệ nợ quá hạn 1.1 Khái niệm nợ quá hạn Trong cụm từ “nợ quá hạn” thì “hạn” đƣợc hiểu là thời hạn, thời gian trả nợ, “quá” nghĩa là vƣợt qua định mức, quy định, thỏa thuận ban đầu và “nợ” là số tiền gốc hoặc lãi hoặc cả gốc và lãi phát sinh giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay.
Do đó nợ quá hạn (NQH) là số tiền gốc hoặc lãi hoặc cả gốc lẫn lãi đã vƣợt qua thời gian trả nợ theo thỏa thuận ban đầu giữa ngƣời đi vay và ngƣời cho vay. Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN thì NQH đƣợc định nghĩa là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi hoặc cả gốc và lãi đã quá hạn [19]. Cụ thể hơn thì NQH chính là các khoản nợ mà khi đến kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi, nếu khách hàng không trả nợ đúng hạn và không đƣợc điều chỉnh kỳ hạn nợ gốc hoặc lãi hoặc không đƣợc gia hạn nợ gốc hoặc lãi thì số nợ đến hạn phải chuyển sang NQH và ngƣời đi vay phải chịu lãi phạt quá hạn với số tiền chậm trả. Nhƣ vậy, NQH trong hoạt động kinh doanh (HĐKD) của ngân hàng chính là khoản nợ mà ngƣời đi vay đến hạn phải thanh toán cho ngân hàng, tuy nhiên vì lý do nào đó mà ngƣời đi vay không thể thực hiện đƣợc nghĩa vụ đã cam kết.2 Khái niệm tỷ lệ nợ quá hạn Tỷ lệ NQH là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa tổng số NQH so với tổng dƣ nợ của ngân hàng.
Cụ thể: Tổng nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100 Tổng dƣ nợ Ý nghĩa chỉ tiêu này: Trong 100 đồng nợ vay của ngân hàng thì có bao nhiêu đồng nợ quá hạn. Đây là chỉ tiêu phản ánh tình hình NQH tại ngân hàng, đồng thời phản ánh trình độ quản lý của ngân hàng trong quá trình từ lúc cho vay đến khi thu hồi nợ. Theo quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà Nƣớc (NHNN) khi tỷ lệ nợ xấu, 2 NQH thuộc nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 – của ngân hàng trên 3% thì ngân hàng đó bắt buộc phải thực hiện xử lý nợ qua Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) [15]. Tỷ lệ NQH càng cao thì đánh giá chất lƣợng tín dụng của ngân hàng đó càng kém, vì vậy tỷ lệ NQH là một trong những chỉ tiêu đƣợc dùng để đánh giá chất lƣợng tín dụng của mỗi ngân hàng.
Nhƣng chỉ tiêu này chỉ mang tính tƣơng đối vì NQH và tổng dƣ nợ của ngân hàng đƣợc xác định tại một thời điểm nào đó nên chỉ tiêu này là chỉ tiêu thời điểm, không phản ánh hết bản chất tín dụng của ngân hàng. Nếu xét về bản chất của NQH thì ta có thể tính NQH theo công thức trên, tuy nhiên tổng nợ quá hạn lúc này đƣợc tính là tổng giá trị của tất cả các khoản nợ đã phát sinh quá hạn trong khoảng thời gian nghiên cứu, kể cả khi khoản nợ đó đã đƣợc tất toán và tổng dƣ nợ là các khoản dƣ nợ đã tồn tại hoặc phát sinh trong khoản thời gian nghiên cứu. Tuy nhiên, cách tính toán này khá phức tạp nên ngƣời ta không sử dụng để tính tỷ lệ NQH trong các ngân hàng thƣơng mại.2 Phân loại nợ quá hạn Có nhiều cách thức phân loại NQH khác nhau và tùy theo từng trƣờng hợp mà các ngân hàng có thể phân loại NQH theo các tiêu chí nhất định. Trong đó, một số tiêu chí phân loại nợ phổ biến hiện nay đó là phân loại nợ theo thời gian vay vốn, theo hình thức đảm bảo, thời gian quá hạn, chủ thể vay vốn… 1.1 Phân loại nợ quá hạn theo nhóm nợ Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 đã hƣớng dẫn cụ thể việc phân loại nợ vào các nhóm nợ theo thời gian quá hạn và những tiêu chí định tính khác [19].
Cụ thể: - Nợ nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn đƣợc đánh giá có khả năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn; các khoản nợ có thể phát sinh trong tƣơng lai nhƣ các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán; các khoản nợ đƣợc đánh giá là có khả năng thu hồi nợ gốc, lãi đúng hạn theo thời hạn đã đƣợc cơ cấu lại. 3 - Nợ nhóm 2: Nợ cần chú ý, bao gồm NQH dƣới 90 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Nợ nhóm 2 còn bao gồm các khoản nợ đƣợc đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi nhƣng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. - Nợ nhóm 3: Nợ dƣới tiêu chuẩn, bao gồm các khoản nợ có thời gian quá hạn dƣới 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả NQH dƣới 90 ngày và các khoản nợ đƣợc đánh giá là không có khả năng thu hồi gốc và lãi khi đến hạn.
- Nợ nhóm 4: Nợ nghi ngờ, bao gồm các khoản nợ có thời gian quá hạn dƣới 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả NQH dƣới 180 ngày và các khoản nợ đƣợc đánh giá là có khả năng tổn thất cao. - Nợ nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn, bao gồm NQH trên 360 ngày; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trên 180 ngày; nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý và các khoản nợ đƣợc đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Phân loại nợ theo từng nhóm nợ là yêu cầu bắt buộc của NHNN vì vậy đây đƣợc xem là hình thức phân loại nợ phổ biến nhất ở các ngân hàng.2 Phân loại nợ quá hạn theo hình thức đảm bảo Phân loại NQH theo hình thức đảm bảo cũng một trong những hình thức phân loại nợ phổ biến tại các ngân hàng nhằm đánh giá khả năng thu hồi nợ vay khi rủi ro tín dụng xảy ra. Theo tiêu chí này, NQH đƣợc phân vào hai nhóm chính là nợ có tài sản đảm bảo (TSĐB) và nợ không có tài sản đảm bảo.
Nợ quá hạn có TSĐB là những khoản NQH mà ban đầu khi cho vay thì ngƣời đi vay có sử dụng tài sản (của chính ngƣời vay hoặc của bên thứ ba) thế chấp, cầm cố để đảm bảo cho khoản vay đó. Trong trƣờng hợp xảy ra NQH và cần xử lý TSĐB để thu hồi nợ vay thì ngân hàng có quyền phát mãi những TSĐB này để thu hồi nợ. Nợ quá hạn không có TSĐB là những khoản NQH mà ban đầu khi cho vay ngân hàng không yêu cầu ngƣời đi vay phải dùng tài sản để đảm bảo cho món vay. Các món nợ này thƣờng đƣợc áp dụng cho các khách hàng lớn, uy tín tốt, khả năng tài chính đảm bảo.
Do mức độ rủi ro mất vốn khá cao nên các ngân hàng thƣờng thận trọng và hạn chế hình thức cấp tín dụng này.3 Một số hình thức phân loại khác Ngoài các hình thức phân loại trên thì NQH còn có thể phân theo nhiều hình thức khác nhau nhƣ khả năng thu hồi vốn, theo chủ thể vay vốn hoặc theo loại tiền cho vay… Trong đó, NQH phân theo khả năng thu hồi vốn sẽ đƣợc chia vào ba nhóm là NQH có khả năng thu hồi, NQH khó đòi và NQH có khả năng mất vốn. NQH có khả năng thu hồi là những khoản nợ mà tại thời điểm phải thanh toán vì một lý do nào đó mà ngƣời vay vốn tạm thời chƣa thể thanh toán đƣợc và việc chƣa thanh toán này chỉ mang tính chất tạm thời, trong thời gian ngắn, ngƣời đi vay hoàn toàn có khả năng thanh toán hết khoản nợ cho ngân hàng ngay sau đó. NQH khó đòi là những khoản nợ mà ngƣời vay vốn đã không thanh toán gốc, lãi trong một thời gian dài và khả năng thu hồi nợ trong trƣờng hợp này thƣờng rất thấp, quá trình thu hồi nợ phức tạp và gặp nhiều khó khăn. Riêng các khoản nợ đƣợc xếp vào nhóm NQH có khả năng mất vốn là những khoản nợ mà ngân hàng đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để thu hồi nợ nhƣng vẫn không thể thu hồi một phần hoặc hoàn toàn bộ khoản nợ.
Khi đó ngân hàng sẽ đánh giá đây là những khoản nợ không có khả năng thu hồi và ngân hàng sẽ mất khoản vốn đã bỏ ra. Nếu phân theo chủ thể vay vốn thì NQH có thể đƣợc phân theo nhiều loại khác nhau do chủ thể vay vốn có nhiều loại chẳng hạn các cá nhân, doanh nghiệp nhà nƣớc, doanh nghiệp tƣ nhân, các hợp tác xã… Thông thƣờng, khi phân loại NQH theo hình thức này các ngân hàng sẽ chia NQH theo hai chủ thể vay vốn là nợ quá hạn của khách hàng cá nhân (KHCN) và nợ quá hạn của khách hàng doanh nghiệp (KHDN). Xét về số lƣợng khách hàng quá hạn thì KHCN phát sinh NQH tại các ngân hàng thƣờng nhiều hơn so với KHDN. Tuy nhiên xét về tổng giá trị NQH thì NQH của các khách hàng doanh nghiệp cao hơn giá trị quá hạn của khách hàng cá nhân (do giá trị vay vốn của khách hàng cá nhân thƣờng không cao).
Ngoài ra, các ngân hàng cũng có thể phân loại NQH theo thời gian vay vốn. Có ba thời hạn vay chính là vay ngắn hạn, vay trung hạn và vay dài hạn. Vay ngắn hạn là khoản vay có kỳ hạn nhỏ hơn hoặc bằng 12 tháng, vay trung hạn là khoản nợ vay có kỳ hạn từ 12 tháng đến 60 tháng và trên 60 tháng đƣợc xem là nợ vay dài 5 hạn. Theo đó, NQH sẽ đƣợc chia thành các nhóm là NQH các khoản vay ngắn hạn, NQH các khoản vay trung hạn và NQH các khoản vay dài hạn.
Một hình thức phân loại nợ khác đó là phân loại NQH theo nguyên tệ cho vay. Nghĩa là ngân hàng sẽ phân loại NQH dựa vào loại tiền cho vay là đồng Việt Nam hay là đồng ngoại tệ. Do quy định của nhà nƣớc về việc hạn chế cho vay bằng đồng ngoại tệ nên các ngân hàng hiện nay chủ yếu cho vay bằng đồng Việt Nam, do đó NQH thƣờng phát sinh chủ yếu ở loại tiền này.