Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÁC QUAN HỆ NGÂN HÀNG. 1- CHỦ THỂ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG. Thuật ngữ "ngân hàng" được sử dụng từ rất lâu. Người ta sử dụng nó để chỉ một hoạt động dịch vụ, trong đó người tiến hành hoạt động này thực hiện việc thu thập, gom lại một thứ hàng hóa hoặc thông tin và cung cấp cho xã hội, dap ứng các như cầu về hàng hóa và thông tin.
Đó là các "kiểu" Ngân hàng như: Ngân hàng "Gien"; Ngân hàng "Mau"; Ngân hàng "Giống”; Ngân hàng "Dữ liệu". Tuy nhiên thuật ngữ ngân hàng được sử dụng phổ biến nhất dùng để chỉ các tổ chức kinh doanh tiền tệ. Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ, thực thể xã hội do con người tạo lập nhưng việc sử dụng nó để có các kết quả mong muốn không chỉ phụ thuộc ý chí chủ quan của con người mà còn phụ thuộc vào các yếu tố, điều kiện kinh tế - xã hội mang tính khách quan. Hệ thống các ngân hàng ở các quốc gia ngày nay trên thế giới được tạo lập là sản phẩm của cả một quá trình phát triển lâu đài của lịch sử.
Mô hình các ngân hàng và pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng là sự phản ánh quá trình nhận thức của nhân loại về thực thể ngân hàng. Ở mỗi quốc gia tùy thuộc vào chế độ kinh tế - xã hội, hình thức tổ chức bộ máy Nhà nước và cơ chế thực hiện quyền lực Nhà nước nên mô hình ngân hàng và pháp luật điều chỉnh hoạt động của chúng có những nét riêng. Tuy vậy, thực tiến đã chứng minh rằng Nhà nước không thể duy ý chí trong việc 4p đặt mô hình ngân hàng va pháp luật điều chỉnh hoạt động của chúng cho một nền kinh tế - xã hội. Những thành công bước đầu trong tiến trình cải cách (đổi mới) hệ thống ngân hàng và pháp luật ngân hàng ở nước ta đã chứng mình điều đó.
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn gốc hình thành và quá trình phát triển của ngân hàng. Tuy vậy để có nhận thức đúng đắn cho việc kiến tạo mô hình ngân hàng và xây dựng pháp luật về ngân hàng cần thiết phải làm sáng tỏ những cơ sở kinh tế - xã hội trực tiếp quyết định đến việc hình thành mô hình ngân hàng trong lịch sử và bộ phận pháp luật điều chỉnh hoạt động của chúng. Nghiên cứu làm sáng tỏ những dấu hiệu và đặc điểm mang tính chất phổ biến của mô hình ngân hàng và pháp luật về ngân hàng trên thế giới có ý nghĩa là sự xác định những chuẩn mực chung cho việc đánh giá mô hình ngân hàng và pháp luật ngân hàng hiện hành, cho quá trình kiến tạo mô hình ngân hàng và pháp luật ngân hàng trong quá trình tiếp tục đổi mới toàn điện hệ thống ngân hàng và cơ sở pháp luật cho hoạt động của chúng ở Việt Nam. Nghề kinh doanh tiền tệ ra đời do nhu cầu của thương mai.Trong thời cổ đại khi xuất hiện việc giao lưu thương mại giữa các lãnh địa với các loại tiền khác nhau lưu hành cùng một lúc, thì nghề kinh doanh tiền tệ xuất hiện với hoạt động chính là thực hiện nghiệp vụ đổi tiền.
Mác viết "Như vậy là việc buôn bán hàng hóa tiền, trước hết là đo các quan hệ quốc tế mà có. Một khi đã có tiền riêng của Quốc gia khác nhau thì các thương nhân mua hàng ở nước ngoài đều buộc phải đổi tiền của nước mình lấy tiền địa phương và ngược lại, hoặc nữa là họ buộc phải đổi loại tiền khác nhau lấy bạc nén hay vàng nguyên chất được ding làm tiền quốc tế. Do đó, mà có nghề đối tiên và nghề người ta coi là một trong những nền tang phát sinh một cách tự nhiên của nghề buôn bán tiền hiện thoi"! Như vậy khi thương mại quốc tế phát triển với các hoạt động tiền khác nhau làm xuất hiện nhu cầu đổi tiền và nghề kinh đoanh tiền tệ ra đời. Những nghiệp vụ đầu tiên của tổ chức kinh doanh tiền tệ bao gồm: Đổi tiền, nhận tiền và bảo quản tiền, cho vay và chuyển tiền.
Nghiệp vụ cho vay thời kỳ này là cho vay nặng lãi. Thời kỳ Phục hưng các tổ chức kinh doanh tiền tệ phát triển nhanh và mở rộng thêm nhiều nghiệp vụ mới như: chỉ trả bằng Thương phiếu, tổ chức thanh toán bù trừ, thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh. Thời kỳ này các tổ chức kinh doanh tiền tệ đã có đặc trưng như ngân hàng. Thế kỷ {7 đã xuất hiện một tổ chức kinh doanh tiền tệ lớn, thực hiện nhiều nghiệp vụ kinh đoanh tiền tệ và đặc biệt đã cho ra đời loại tín phiếu chứng nhận về tiền gửi và được dùng vào việc giao địch (chi trả) gần giống như các giấy bạc ngân hàng ngày nay.
Đó là các tổ chức được coi là những ngân hàng đầu tiên, bao gồm: Ngân hang Amsterdam (Hà lan) thành lập năm 1609; Ngân hang Hamboury (Đức) 1619; Bank of England (Anh) 1694. Trong giai đoạn này hoạt động của ngân hàng có hai đặc trưng: - Các ngân hàng hoạt động độc lập, chưa tạo ra một hệ thống, không chịu bị ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau. 'KMac Tư bản quyển IH, tập 1, trang 526-563 nhà xuất bản sự thật Hà Nội 1978. - Mỗi ngân hàng đều có những chức năng hoạt động như nhau, bao gồm nhận tiền gửi của khách hàng, chiết khấu và cho vay, phát hành giấy bạc ngân hàng và lưu thông, thực hiện các dich vụ khác như: Đổi tiền, chuyển tiền.
Đầu thế ky 18 lưu thông hàng hóa được mở rộng cả về quy mô và phạm vt. Việc phát hành tiền của nhiều ngân hàng, một mặt gây can trở quá trình phát triển, mặt khác xuất hiện việc lừa đảo và do nguồn lợi phát hành lớn nên Nhà nước can thiệp nhằm hạn chế số lượng ngân hàng được phép phát hành tiền làm xuất hiện hai loại ngân hàng: Các ngân hàng được phép phát hành tiền gọi là Ngân hàng Phát hành; Các ngân hàng không được phép phát hành tiền được gọi là Ngân hàng Trung gian. Đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, ở các nước Châu Âu, các Nhà nước đã ban hành các đạo luật chỉ cho phép một ngân hàng duy nhất được phép phát hành tiền, còn lại các ngân hàng khác chuyển thành Ngân hàng Thương mại. Các ngân hàng đến giai đoạn này vẫn là các Ngân hàng tư nhân và Ngân hàng cổ phần (kể cả Ngân hàng phát hành).
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 đã buộc Nhà nước các nước Tư bản buộc phải can thiệp sâu vào kinh tế. Ngoài việc điều tiết kinh tế qua hệ thống luật pháp, chính sách thuế, các Nhà nước đã nắm lấy phương tiện cơ bản của nền kinh tế thị trường - «f6 là tiền tệnhằm giải quyết những bất ổn về kinh tế. Nhà nước nam lấy Ngân hàng Phát hành thông qua việc quốc hữu hóa Ngân hàng Phát hành và giành lấy quyền bổ nhiệm cơ quan quản lý ngân hàng này. Thời kỳ này khái niệm Ngân hàng Trung ương đã ra đời thay thế cho khái niệm Ngân hàng Phát hành.
Đó không chỉ là sự thay đổi đơn giản về tên gọi mà còn thay đổi cả về chức năng hoạt động của ngân hàng. Ngân hàng Trung ương không chi phát hành giấy bạc lưu thông, mà còn là cơ quan thực hiện chức nang quản lý Nhà nước về tiền tệ và ngân hàng thực hiện chính sách tiền tệ. Cho đến nay mô hình ngân hàng phổ biến ở các nước kinh tế thị trường là hệ thống ngân hàng hai cấp: J. Ngan hàng Trung ương: (còn gọi là ngân hàng Nhà nước) vừa làm chức năng phát hành tiền, vừa làm chức năng quan lý Nhà nước về tiền tệ và ngân hàng.
Các Ngân hàng Thương mại, các tổ chức tài chính thực hiện kinh doanh tién tệ và địch vụ ngân hàng. Trong đó có Ngân hàng Thuong mại chiếm số lượng áp dao và giữ vai trò quan trong hơn ca.1 Ngân hàng Thương mai và các trung gian tài chính khác 1.1 Ngân hàng Thương mai Các nhà kinh tế và các luật gia đều thống nhất với nhau trên những nét tổng quát nhất về Ngân hàng Thương mại và cho rằng Ngân hàng Thương mại là một trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của Chính phủ làm các thao tác thu nhận tiền gửi từ công chúng, cho vay và thanh toán. Để phan biệt hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác ở các nước, luật pháp thường nêu lên 2 loại thao tác: - Thao tác giao dịch Ngân hàng (nghiệp vụ ngân hàng). - Các thao tác giao địch phi ngân hàng (không phải là nghiệp vụ ngân hàng) nhưng vì có liên quan đến hoạt động ngân hàng nên các ngân hàng được phép thực hiện.
Các thao tác ngân hang chủ yếu là: +Thu nhận tiền gửi của công chúng với nghĩa vụ hoàn trả. + Cấp tín dụng đưới bất kỳ hình thức nào. +Tổ chức cho khách hàng sử dung hoặc quản lý các phương tiện thanh toán. Thông thường pháp luật của các nước quy định: Bất kỳ một tổ chức nào tiến hành một trong những thao tác ngân hàng đều được coi là hoạt động ngân hàng, mac dù chúng có tên gọi rất khác nhau, như : Ngân hàng Tín dụng; Công ty Ngân hàng ; Quỹ tín dụng.
và phải chịu sự điều chỉnh của luật ngân hàng. Ngày nay đo kinh tế phát triển đã xuất hiện ngày càng nhiều các phương thức kinh doanh tiền tệ với các hình thức tổ chức đa đạng, mà thuật ngữ "Ngân hàng" không bao hàm hết. Do đó người ta thường dùng thuật ngữ trung gian tài chính (các Định chế tài chính) chứ không đơn giản dùng thuật ngữ "Ngân hang". Các trung gian tài chính là khái niệm rộng hơn, bao gồm các ngân hàng và các Tổ chức tài chính phi ngân hàng, thực hiện chức năng trung gian tài chính.
(Nghĩa là làm chức năng chuyển vốn từ những người thừa vốn đến những người thiếu và cần vốn.) Việc sử dụng thuật ngữ "các trung gian tài chính" cho phép khi phát triển hệ thống các tổ chức tài chính, thừa nhận các tổ chức tài chính phi ngân hàng vẫn phải chịu sự điều chỉnh, chỉ phối của luật ngân hàng, nhằm mục tiêu thực hiện chính sách tiền tê. Các nhà kinh tế cho rằng Ngân hàng Thương mại có các chức năng chính sau day: Trung gian tài chính; Trung gian thanh toán và quan ly phương tiện thành toán; chuyển hóa tiền tệ; chuyển hóa các phương tiện tiền tệ; dich vụ tài chính và các định vụ khác, tham gia thị trường.