Chương I: Doanh nghiệp nhà nước ở các quốc gia và xu thế cải cách doanh nghiệp nhà nước. Chương II: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam. Chương III: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Chương IV: Hoàn thiện nền tảng pháp lý cho cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Hy vọng cuốn sách là nguồn tài liệu cần thiết cho các nhà nghiên cứu hoạch định chính sách, đồng thời là những tư liệu đáng lưu tâm cho những nhà lập pháp khi tiến hành xây dựng pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và là cuốn sách bổ ích cho sinh viên, giảng viên và cán bộ nghiên cứu ở các trường đại học chuyên ngành luật, kinh tế và quản lý nhà nước. Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc. Tháng 3 năm 2004 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA LỜI NÓI ĐẦU Sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước là một trong những yêu cầu bức thiết của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Thực tiên hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam hàng chục năm qua cho thấy mặc dù doanh nghiệp nhà nước được giao phó vai trò chủ đạo song hoạt động của chúng có nhiều điểm bất cập.
Doanh nghiệp nhà nước chiếm phần vốn đầu tư chủ yếu từ ngân sách. Đội ngũ cán bộ có đào tạo, cán bộ quản lý có năng lực cũng tập trung chủ yếu ở trong các doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước chiếm lĩnh những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế như dầu khí, vận tải, bưu chính, điện, khai khoáng và nhiều ngành dịch vụ chiến lược khác như bảo hiểm, ngân hàng, v. Tuy nhiên, với nhiều thế mạnh như vậy song doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa thực sự phát huy tốt vai trò nòng cốt của chúng trong việc làm cho kinh tế Nhà nước thực sự đóng vai trò chủ đạo.
Đa số các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ, gây thất thoát tài sản của Nhà nước một cách nghiêm trọng. Những vụ tham nhũng điển hình đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến doanh 7 nghiệp nhà nước. Chính vì vậy, từ trước đến nay, vấn dé sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước để loại hình doanh nghiệp này trở thành động lực chủ yếu của nền kinh tế luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta chú trọng sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước càng trở nên cấp bách khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự chủ động hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Một trong những giải pháp đổi mới doanh.
nghiệp nhà nước được thực hiện có hiệu quả và mang lại nhiều thay đổi triệt để trong cấu trúc tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước là cổ phần hoá. Cổ phần hoá được bắt đầu triển khai cách đây 1O năm với những bước đi thử nghiệm và sau đó là sự triển khai rộng khắp trên cả nước. Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau, cổ phần hoá vẫn chưa mang lại những kết quả mong muốn. Mặc dù hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá đã chứng tỏ tác dụng to lớn của nó song thực tế số doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá ít hơn rất nhiều so với yêu cầu đặt ra.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, tìm được những hạn chế của nó, đưa ra các giải pháp nhằm day nhanh tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là việc làm rất có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn. Cổ phần hoá là một biện pháp quan trọng trong việc sắp xếp đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước tương đối triệt để và phù hợp với chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội 8 chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước ta. Cổ phần hoá động cham tới nhiều vấn đề vừa phức tạp và vừa nhay cảm như vấn đề sở hữu, vấn đề vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, hậu quả xã hội đối với người lao động, v. Chính vì vậy, việc làm rõ một số khía cạnh chủ yếu của cổ phần hoá, nhất là những khía cạnh pháp lý, những can trở của tiến trình cổ phần hoá và đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện chính sách và pháp luật về cổ phần hoá rất đáng được chú ý.
Cuốn sách chuyên khảo "Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước - những vấn dé lý luận và thực tiên" hy vọng sẽ góp phần làm rõ một số vấn đề bức xúc của tiến trình cổ phần hoá ở nước ta dưới góc độ pháp lý. Tác gia xin chân thành cam ơn Giáo sư, Tiến sỹ Lars- G. Malmberg, Tiến sỹ Bùi Quốc Tuấn, Tiến sỹ Trần Thái Dương, Tiến sỹ Hoàng Ngọc Thinh, Thạc sỹ Lê Dinh Vinh và Phòng trị sự Trường đại học Luật Hà Nội về những sự giúp đỡ quý báu đối với tác giả. TÁC GIÁ CHUONG I DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở CÁC QUOC GIA VA XU THE CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC I.
SỰ THĂNG TRAM CUA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở CÁC QUỐC GIA Doanh nghiệp nhà nước tồn tại phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới mac dù quy mô và vi trí của chúng có khác nhau ở từng nước. Doanh nghiệp nhà nước là bộ phận chủ yếu của kinh tế nhà nước, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp. Nhìn từ góc độ lịch sử, có thể thấy rằng doanh nghiệp nhà nước phát triển mạnh trên thế giới từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II. Sự thăng trầm của doanh nghiệp nhà nước ở trên thế giới có liên hệ khá chặt chẽ với sự ra đời, phát triển và suy yếu tạm thời của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo.
Mỗi nhóm quốc gia phát triển doanh nghiệp nhà nước theo những cách thức và với những mục tiêu và nhận thức khá khác nhau. Nói đến doanh nghiệp nhà nước, người ta thường gắn I với các nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Sở di như vậy là do, doanh nghiệp nhà nước trong các nước xã hội chủ nghĩa trước đây là các chủ thể chính của nền kinh tế. Chúng chiếm ưu thế không chỉ về số lượng mà cả về vai trò quyết định đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Doanh nghiệp nhà nước ở các nước Liên Xô, Cộng hoà dân chủ Đức, Ba Lan, Hunggary, Rumani, v. chiếm gần như tuyệt đối các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa khác như Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ, Cuba đều tổ chức hoạt động kinh tế chủ yếu thông qua các doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước trong các quốc gia xã hội chủ nghĩa được thành lập và hoạt động dưới tác động của nhiều yếu tố song chủ yếu nhất là mô hình chủ nghĩa xã hội theo các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Mô hình chủ nghĩa xã hội này đã coi sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể là nền tảng của sự phát triển xã hội công bằng, không có chế độ người bóc lột người. Chính vì vậy, việc tạo ra các chủ thể kinh tế thuộc sở hữu nhà nước được coi là nhiệm vụ chiến lược. Doanh nghiệp nhà nước khẳng định là đóng vai trò chủ đạo. Bên cạnh ảnh hưởng của lý luận về chủ nghĩa xã hội, việc hình thành các doanh nghiệp nhà nước cũng diễn ra dưới ảnh hưởng của những viện trợ kinh tế mà Liên Xô dành cho các nước xã hội chủ nghĩa.
Nhiều doanh nghiệp nhà nước, nhất là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp cơ khí, chế tạo máy được hình thành ở nhiều nước thông qua viện trợ trực tiếp 12 của Liên Xô. Điều đáng nói hơn cả là anh hưởng của các thành tựu mà doanh nghiệp nhà nước ở Liên Xô thu được trong thời kỳ phục hồi và xây dựng kinh tế trước Chiến tranh thế giới thứ IT và đặc biệt là trong thời kỳ Chiến tranh vệ quốc. Các nước xã hội chủ nghĩa ý thức được qua những thành công của doanh nghiệp nhà nước ở Liên Xô vai trò của loại hình doanh nghiệp này đối với sự phát triển độc lập của đất nước. Chính vì vậy, trong công cuộc phục hồi kinh tế đất nước sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã thành lập nhiều doanh nghiệp nhà nước để thông qua đó chi phối toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Doanh nghiệp nhà nước đã đóng vai trò quyết định cho sự phục hồi và phát triển kinh tế ở những nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trong một giai đoạn khá dài. Ở các nước như Ba Lan, Hunggary, Rumani, Bungari, v., doanh nghiệp nhà nước đều chiếm vi trí chủ dao trong nền kinh tế quốc dân trên nhiều phương diện. Điểm đặc trưng chung của các doanh nghiệp nhà nước trong khối xã hội chủ nghĩa trước đây bao gồm: Chiếm tuyệt đại đa số các doanh nghiệp trong nền kinh tế; chiếm giữ các vị trị then chốt của nền kinh tế, thu hút phần lớn các nguồn đầu tư ngân sách, tập trung phần lớn các nguồn lao động có kỹ thuật và tri thức cao, được bao cấp ở rất nhiều khía cạnh, nhất là tin dụng và xuất nhập khẩu. Ở Liên Xô, trước lúc chủ nghĩa xã hội sụp đổ, doanh nghiệp nhà nước chiếm hầu như tuyệt đối trong nền kinh tế quốc dân.
Nền kinh tế Liên Xô đã phát triển mạnh dựa vào các 13 doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ khôi phục kinh tế sau Chiến tranh thế giới thứ II. Ở Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, doanh nghiệp nhà nước cũng đã có những đóng góp hết sức quan trọng trong kinh tế xã hội. Hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước - chủ thể kinh tế chủ yếu trong các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã góp phần giải quyết các vấn đề chính sau: - Xây dựng và củng cố được nền kinh tế tự chủ của các quốc gia xã hội chủ nghĩa; - Giải quyết được một số vấn đề liên quan đến phát triển đồng đều giữa các khu vực về kinh tế và xã hội; - Giải quyết nhiều vấn đề xã hội quan trọng; - Tạo ra việc làm cho quần chúng nhân dân; - Góp phần làm cho công bằng xã hội được duy trì ở mức độ cao. Ở Trung Quốc, doanh nghiệp nhà nước được phát triển rất mạnh và đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế của đất nước này.
Tính đến năm 1996, Trung Quốc có hơn 100.