Chương 1 Cơ sở lý luận cơ bản về tài chính trong tiến trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) ở Việt Nam 1.1 Cải cách Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) trong điều kiện Việt Nam 1. DNNN và vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường 1. Khái niệm về Doanh nghiệp Nhà nước Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là loại hình tổ chức doanh nghiệp phổ biến ở các quốc gia trên thế giới. Mỗi một quốc gia lại có những quy định khác nhau về DNNN.
Theo Liên hợp quốc, DNNN là những doanh nghiệp do Nhà nước nắm toàn bộ hoặc sở hữu từng phần và kiểm soát ở mức độ nhất định quá trình ra quyết định ở doanh nghiệp. Ngân hàng thế giới (WB) định nghĩa DNNN là pháp nhân kinh tế do Chính phủ sở hữu hoặc điều hành nhằm tạo ra thu nhập từ việc bán các sản phẩm và dịch vụ. Theo quy định của CHLB Nga, khu vực Nhà nước bao gồm toàn bộ các pháp nhân chịu sự quản lý của Nhà nước thông qua các cơ quan chính quyền liên bang và các cơ quan chính quyền của các chủ thể liên bang. Khu vực kinh tế Nhà nước bao gồm.
- Các doanh nghiệp Nhà nước độc lập, tổ chức thương mại không có quyền sở hữu tài sản được giao - Các công sở Nhà nước - Các công ty cổ phần, trong đó hơn 50% vốn điều lệ thuộc sở hữu liên bang hoặc sở hữu của các chủ thể liên bang TÀI CHÍNH VÀ CẢI CÁCH DNNN 2006 z 6 LUẬN VĂN THẠC SỸ NGUYỄN ANH TUẤN - QTKD K12 - Các doanh nghiệp con có công ty đầu đàn nằm trong thành phần của khu vực Nhà nước - Các doanh nghiệp thành viên của công ty holding trong đó công ty mẹ thuộc khu vực Nhà nước Nước Pháp quy định DNNN là loại doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, do Nhà nước trực tiếp quản lý (gồm cả các chi nhánh) và những doanh nghiệp là công ty liên doanh hỗn hợp trong đó Nhà nước chiếm cổ phần lớn (chi phối) tham gia hơn 30% vốn điều lệ trở lên và là cổ đông lớn nhất, hàng năm Nhà nước công bố danh mục các DNNN Nhà nước. Tại New Zealand chỉ có 16 DNNN, tất cả đều là các công ty trách nhiệm hữu hạn và đều có 100% vốn thuộc sở hữu Nhà nước và không tồn tại một DNNN có vốn Nhà nước thấp hơn 100%. Thổ Nhĩ Kỳ là quốc gia mà khu vực kinh tế Nhà nước hoạt động tương đối hiệu quả, thì tất cả các doanh nghiệp được chia thành hai nhóm, đó là các doanh nghiệp kinh tế Nhà nước và các tổ chức kinh tế Nhà nước. Các doanh nghiệp kinh tế Nhà nước là các pháp nhân có vốn thuộc về Chính phủ và hoạt động phù hợp với nguyên tắc kinh tế thị trường, còn các tổ chức kinh tế Nhà nước là các pháp nhân có vốn thuộc về chính phủ, tham gia sản xuất và phân phối sản phẩm cụ thể do Nhà nước quy định khối lượng, chủng loại và giá cả.
Tại Việt Nam, khái niệm doanh nghiệp nói chung và DNNN nói riêng được sử dụng phổ biến từ đầu những năm 1990 trở lại đây và luôn được bổ sung, hoàn thiện. Lần đầu tiên, Quốc hội Việt Nam đã thông qua và ban hành Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995, trong đó quy định DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao. DNNN có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách TÀI CHÍNH VÀ CẢI CÁCH DNNN 2006 z 7 LUẬN VĂN THẠC SỸ NGUYỄN ANH TUẤN - QTKD K12 nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi vốn do doanh nghiệp quản lý, DNNN có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam. Đây là lần đầu tiên ở Việt nam, DNNN được phân chia thành theo hai mục tiêu hoạt động là DNNN hoạt động kinh doanh và DNNN công ích, không xếp chung tất cả DNNN thành một loại như trước đây, lẫn lộn giữa hoạt động kinh doanh và hoạt động công ích.
Tuy nhiên, căn cứ theo quy định của Luật DNNN, tỷ lệ vốn tối thiểu của Nhà nước trong doanh nghiệp là bao nhiêu để được coi là DNNN không được quy định cụ thể, dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau về quan niệm thế nào là DNNN như chỉ DNNN có 100% vốn Nhà nước hoặc doanh nghiệp mà tỷ lệ vốn Nhà nước trong doanh nghiệp chiếm 51% trở lên hoặc DNNN là doanh nghiệp có cổ phần nhiều hơn 2 lần cổ phần của cổ đông lớn nhất, hoặc DNNN là doanh nghiệp mà ở đó Nhà nước có cổ phần đặc biệt. Để tiếp tục hoàn thiện và đưa ra một khái niệm nhất quán về DNNN, năm 2003, Quốc hội thông qua Luật DNNN sửa đổi, quy định DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, góp vốn chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Như vậy, tại Việt Nam DNNN là những công ty mà trong đó Nhà nước có cổ phần chi phối (51% trở lên). Tóm lại, DNNN là những cơ sở kinh doanh do Nhà nước sở hữu hoàn toàn hay một phần, DNNN phân biệt với doanh nghiệp tư nhân ở quyền sở hữu của Nhà nước và phân biệt với các cơ quan khác của Nhà nước ở tính chất kinh doanh thương mại, tạo ra thu nhập thông qua cung cấp hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp.
Đặc điểm sở hữu của Nhà nước hầu như bao gồm cả quyền kiểm soát, chỉ đạo, can thiệp ở một mức độ nào đó vào hoạt động của doanh nghiệp. TÀI CHÍNH VÀ CẢI CÁCH DNNN 2006 z 8 LUẬN VĂN THẠC SỸ NGUYỄN ANH TUẤN - QTKD K12 1. Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường Là một loại hình doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh tế thị trường, vì vậy DNNN có một vai trò quan trọng và không thể thay thế trong bất cứ nền kinh tế nào, dù là những nước phát triển hay những nước đang phát triển. Vai trò của DNNN trong nền kinh tế không chỉ thể hiện ở sự hiện diện trong nền kinh tế nơi mà khu vực DNNN chiếm tỷ trọng từ 5% GDP đến 90% GDP tùy theo điều kiện và chính sách kinh tế phát triển của từng quốc gia và còn thể hiện ở một số vai trò chủ yếu sau : Thứ nhất, vai trò quan trọng nhất của DNNN trong nền kinh tế là công cụ giúp Nhà nước khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường, đảm nhận các lĩnh vực sản xuất kinh doanh có tính chiến lược đối với sự phát triển kinh tế-xã hội đòi hỏi vốn đầu tư lớn, khu vực tư nhân không muốn tham gia, DNNN tham gia vào những lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn, tham gia vào một số ngành có lợi thế cạnh tranh.
Tại Việt Nam, khu vực kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, trong đó DNNN là bộ phận chủ yếu của kinh tế Nhà nước và sở hữu Nhà nước tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh tế. Vai trò thứ hai của DNNN trong nền kinh tế là đóng những vai trò chính trị. DNNN nắm giữ những ngành đặc biệt quan trọng liên quan đến an ninh, quốc phòng như công nghiệp quốc phòng, khai mỏ. Ngoài ra, DNNN còn tham gia chiếm giữ một số vị trí thiết yếu, quan trọng, tuỳ theo từng thời kỳ phát triển kinh tế để chủ động định hướng xã hội, làm đối trọng trong phát triển hội nhập kinh tế quốc tế.
Tại một số quốc gia, nhất là ở các nước đang phát triển, DNNN còn là một kênh quan trọng tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN), là một kênh thu hút viện trợ và vốn đầu tư nước ngoài cho TÀI CHÍNH VÀ CẢI CÁCH DNNN 2006 z 9 LUẬN VĂN THẠC SỸ NGUYỄN ANH TUẤN - QTKD K12 phát triển kinh tế, DNNN còn là biểu tượng và là một phương tiện để đề cao tinh thần độc lập tự chủ quốc gia về kinh tế, là một phương tiện để thực hiện công bằng xã hội. DNNN còn có vai trò gánh vác chức năng, vai trò xã hội và khác biệt so với các loại hình doanh nghiệp khác, DNNN có mặt ở những ngành ở những địa bàn khó khăn có ý nghĩa chính trị xã hội mà tư nhân không muốn đầu tư, đảm bảo cân bằng về đầu tư phát triển theo vùng, miền, đảm nhận các ngành sản xuất hàng hoá, công cộng thiết yếu. DNNN cung cấp những hàng hoá và dịch vụ công cộng mà quyền sở hữu không thể xác định (giao thông, đường thuỷ, công trình kiến trúc lịch sử, phong cảnh thiên nhiên…) hoặc những hàng hoá, dịch vụ mà tư nhân không muốn làm (điện, nước…) Nhà nước còn trợ giúp cho các doanh nghiệp lớn, nhất là các DNNN có tuyển dụng nhiều lao động nhằm tạo sự ổn định và duy trì chỗ làm việc của người lao động bằng cách tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp nếu không thì những doanh nghiệp này sẽ phá sản, gây ra những hậu quả xã hội nghiêm trọng và sự trợ giúp này cũng có giới hạn và thời gian. DNNN có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, DNNN đảm nhận vai trò quan trọng để giảm thiểu những thất bại của thị trường, vì thế khu vực DNNN hoạt động có hiệu quả luôn là một mục tiêu các quốc gia theo đuổi để có được sự phát triển kinh tể ổn định và bền vững.
Điều kiện và yêu cầu cải cách DNNN ở Việt Nam Điểm nổi bật bao quát toàn bộ khu vực DNNN trên thế giới bất kể đó là nền kinh tế phát triển hay không phát triển, kinh tế thị trường hay không thị TÀI CHÍNH VÀ CẢI CÁCH DNNN 2006 z 10 LUẬN VĂN THẠC SỸ NGUYỄN ANH TUẤN - QTKD K12 trường là sự cần thiết phải tồn tại và có những tác động tích cực không thể phủ nhận của khu vực DNNN thì DNNN cũng lại là khu vực hoạt động kém hiệu quả của nền kinh tế, gây ra những tổn thất to lớn cho các nguồn lực phát triển của đất nước. Do đó, cải cách DNNN là một việc làm cần thiết góp phần phát triển kinh tế-xã hội.