CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI GỬI TIỀN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI GỬI TIỀN 1. Khái niệm và đặc điểm của người gửi tiền 1. Khái niệm của người gửi tiền Người gửi tiền là đối tượng quan trọng mà mỗi ngân hàng đều phải quan tâm, bởi lẽ không có người gửi tiền thì các ngân hàng không đủ vốn để tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình. Vì vậy, để đảm bảo khả năng phát triển của mình, các ngân hàng phải luôn quan tâm đến nhu cầu, sở thích của người gửi tiền để thu hút số tiền gửi của đối tượng này.
Đặc biệt trong thời điểm hiện nay, khi mà người gửi tiền có rất nhiều sự lựa chọn để đảm bảo về sự an toàn cũng như hưởng lợi được cao nhất cho số tiền của mình. Điều này đã dấy lên sự cạnh tranh gay gắt cũng như rất sôi động giữa các ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Để hiểu về pháp luật bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trước hết phải làm rõ khái niệm người gửi tiền. Tuy nhiên, hiện nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có một văn bản chính thức nào đưa ra khái niệm cụ thể thế nào là người gửi tiền.
Người gửi tiền được hiểu thông thường là người có một khoản tiền gửi vào tài khoản của họ tại các ngân hàng hay các tổ chức tín dụng. Vậy thì ta cũng cần phải hiểu tiền gửi là gì? Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tiền gửi. Cũng còn tùy mục đích của người gửi tiền mà tiền gửi còn chia thành các loại khác nhau, nhưng thường sẽ có hai loại tiền gửi chính theo mục đích của người gửi tiền là: tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán. Theo định nghĩa tại Điều 6 Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN, quy định: “người gửi tiền là người thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm.
Người gửi tiền có thể là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, của đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm”. Nếu theo mục đích thanh toán, cơ bản có thể hiểu tiền gửi là tiền mà 12 người gửi không nhằm mục đích hưởng lãi và chỉ nhằm mục đích sử dụng các tiện ích thanh toán của loại tiền gửi này. Luật TCTD năm 2010 không sử dụng khái niệm tiền gửi mà sử dụng khái niệm “hoạt động nhận tiền gửi”. Theo khoản 13, Điều 4, Luật các TCTD năm 2010 quy định: “nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”.
Từ những cách tiếp cận trên có thể rút ra định nghĩa khái niệm tiền gửi như sau: tiền gửi là tất cả các khoản tiền của tổ chức, hoặc cá nhân gửi tại tổ chức nhận tiền gửi (không phân biệt mục đích, kỳ hạn, đối tượng) theo quy định của pháp luật phù hợp với mục đích và yêu cầu của khách hàng và của chính TCTD đó. Từ đây có thể thấy mối quan hệ mật thiết giữa người gửi tiền và tiền gửi và quan hệ giữa người gửi tiền và các tổ chức tín dụng. Có thể coi quan hệ giữa người gửi tiền và các tổ chức tín dụng như là một hợp đồng đặc biệt hay đơn giản chỉ là một thỏa thuận giữa các bên cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên khi gửi tiền và nhận tiền gửi. Với đặc điểm như trên, cần phải đặt người gửi tiền vào vị trí của người sử dụng dịch vụ ngân hàng, hay người “mua hàng”, hay là “khách hàng” chứ không phải là người “bán hàng” trong quan hệ với ngân hàng.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu một cách chung nhất, người gửi tiền là các cá nhân, tổ chức có một khoản tiền gửi tại các TCTD dưới một hình thức nhất định theo như các bên thỏa thuận phù hợp với mục đích, yêu cầu của khách hàng theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của người gửi tiền Thứ nhất, người gửi tiền có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Cá nhân và các tổ chức là hai chủ thể gửi tiền chính ở các TCTD. Thông thường khi gửi tiền tại các TCTD thì các cá nhân hay tổ chức thường 13 nhằm mục đích tiết kiệm hay thanh toán.
Theo quy định tại điểm a,b khoản 2 điều 2 quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN ngày 21 tháng 11 năm 2002 của Ngân hàng Nhà nước thì: ngân hàng mở tài khoản tiền gửi cho các đối tượng sau: cá nhân là công dân Việt nam, cá nhân nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự; tổ chức Việt nam, tổ chức nước ngoài được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật. Cũng theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước số 1160/2004/QĐ- NHNN ngày 13 tháng 9 năm 2004 về việc ban hành quy chế tiền gửi tiết kiệm quy định tại điều 7: Điều kiện thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm: (1) Cá nhân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; (2) Cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi nhưng có tài sản riêng đủ để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật. Từ đây có thể rút ra kết luận chung về người gửi tiền qua hai quy chế này: Cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ Luật dân sự được thực hiện mọi giao dịch, còn người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật thì chỉ được thực hiện các giao dịch thông qua người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật. Như vậy, mọi cá nhân đều có thể gửi tiền vào các ngân hàng tùy theo mục đích của mình: thanh toán hoặc tiết kiệm.
Còn người gửi tiền là tổ chức là các doanh nghiệp, cơ quan, đoàn thể, đơn vị vũ trang Việt Nam được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt nam và các tổ chức nước ngoài được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật nước mà tổ chức đó được thành lập. 14 Thứ hai, mục đích của người gửi tiền tại NHTM rất khác nhau và phụ thuộc vào đặc điểm của từng loại tiền gửi mà họ sử dụng. Mục đích của người gửi tiền thường gồm có mục đích thanh toán và tiết kiệm. Với mục đích thanh toán, người gửi tiền chỉ dùng để gửi tiền qua ngân hàng cho hoạt động thanh toán, có thể là thanh toán quốc tế hay thanh toán trong nước.
Tiền gửi thanh toán là loại hình tiền gửi không kỳ hạn được sử dụng với mục đích chủ yếu là thực hiện các giao dịch thanh toán qua Ngân hàng bằng các phương tiện thanh toán như: séc lĩnh tiền mặt, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, chuyển tiền điện tử… Trong trường hợp này ngân hàng là trung gian thanh toán cho bên mua và bên bán. Việc thanh toán này mang lại cho ngân hàng một khoản như là tiền phí mà ngân hàng làm trung gian thanh toán này. Với mục đích tiết kiệm gồm: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhân tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về BHTG.
Tiền gửi có kỳ hạn: đối tượng sử dụng loại hình dịch vụ này thường là các doanh nghiệp, cơ quan, công ty, các tổ chức có lượng tiền dư nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định, mà chưa có nhu cầu sử dụng đến. Nếu để tại quỹ của cơ quan thì nguồn tiền này sẽ không sinh lời, do đó cơ quan xí nghiệp này sẽ làm một hợp đồng tiền gửi (không phải sổ tiết kiệm) với ngân hàng trong khoảng thời gian nhất định (có kỳ hạn) có thể là một tuần, hai tuần, hoặc một hay hai tháng. Tùy vào kỳ hạn mà chủ doanh nghiệp chọn để có mức lãi suất tương ứng. Số tiền gửi sẽ hưởng lãi suất tương ứng với kỳ hạn đó.
Tiền gửi không kỳ hạn: là tiền gửi khách hàng được gửi, rút nhiều lần và hưởng lãi suất không kỳ hạn theo số dư mỗi ngày. Quyền lợi của người gửi tiền Khi thực hiện việc gửi tiền vào ngân hàng thì người gửi tiền luôn có những quyền lợi do pháp luật quy định và ngân hàng phải thực hiện. Tuy nhiên, quyền lợi của khách hàng chỉ được đảm bảo khi ngân hàng thực hiện đúng các theo yêu cầu thanh toán của mình trong thời gian đó khi họ gửi tiền nhằm mục đích thanh toán hoặc được đảm bảo số vốn an toàn và có lãi khi mục đích của họ là gửi tiết kiệm hoặc có kỳ hạn. Vậy có thể hiểu quyền lợi của người gửi tiền là quyền được hưởng những lợi ích mà ngân hàng phải đảm bảo để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng phát sinh từ giao dịch gửi tiền.
Các quyền cơ bản của người gửi tiền bao gồm: Một là, quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản: Khi gửi tiền vào ngân hàng, khách hàng phải có mục đích nhất định có thể là mục đích an toàn và sinh lời, có thể là mục đích thanh toán, mục đích chuyển khoản… và tất cả mục đích đó phải được ngân hàng đảm bảo để thỏa mãn quyền của người gửi tiền. Hai là, quyền được an toàn: là quyền được bảo đảm số tiền đó an toàn, tránh sự mất mát, rủi ro. Đến thời hạn rút tiền, ngân hàng phải đảm bảo cho khách hàng nhận số tiền gốc và lãi suất theo thỏa thuận trong hợp đồng tiền gửi. Ba là, quyền được cung cấp thông tin: người gửi tiền được quyền có các số liệu cần thiết để trên cơ sở đó lựa chọn việc thực hiện giao dịch của mình.
Bốn là, quyền được lựa chọn: người tiêu dung đ ược tự do lựa chọn sản phẩm phù hợp với yêu cầu của mình.