Chương 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 1. Khái niệm về thế chấp tài sản và tài sản thế chấp 1. Khái niệm về thế chấp tài sản Không thể phủ nhận rằng, thế chấp tài sản là biện pháp bảo đảm có rất nhiều ưu thế so với các biện pháp bảo đảm khác, xét từ góc độ tính tiện dụng cho các bên liên quan (bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm). Vì lẽ đó, các TCTD và khách hàng vay trong quan hệ vay vốn thường ưu tiên lựa chọn biện pháp bảo đảm này.
Tuy nhiên, để xử lý tốt mối quan hệ lợi ích giữa các bên trong hợp đồng thế chấp tài sản, điều rất quan trọng là phải nhận diện đúng đặc trưng pháp lý của mỗi loại hợp đồng này và mối quan hệ về hiệu lực giữa chúng với nhau; góp phần làm rõ cơ sở lý luận cho việc ứng dụng và thực thi pháp luật về thế chấp tài sản trong quan hệ vay vốn tại tổ chức tín dụng. Theo quy định tại Điều 317 BLDS 2015, thì “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”. TSTC do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thoả thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.
Xét về phương diện học thuật, ngoài những đặc điểm mang tính bản chất của hợp đồng thế chấp nói chung, hợp đồng TCTS trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng còn có những đặc trưng pháp lý sau đây: Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng TCTS bảo đảm tiền vay luôn có một bên là tổ chức tín dụng – với tư cách là bên nhận thế chấp (bên có quyền đòi nợ theo hợp đồng tín dụng). Ngoài ra, chủ thể thứ hai là bên thế chấp và chủ thể này có thể chính là bên vay hoặc người thứ ba có TSTC cho TCTD. Do chủ thể nhận thế chấp là TCTD nên việc phòng tránh rủi ro tín dụng cho chủ thể này là vấn đề hết sức quan trọng, được pháp luật quan tâm đặc biệt vì mục tiêu giữ vững an toàn của hệ thống ngân hàng và đảm bảo lợi ích quốc gia. Thứ hai, nghĩa vụ được bảo đảm bằng hợp đồng thế chấp thường là nghĩa vụ hoàn trả tiền vay theo HĐTD giữa TCTD với khách hàng vay vốn.
Nghĩa vụ này phát sinh từ HĐTD, bao gồm nợ gốc, nợ lãi, các khoản phí, tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. 123doc 8 Thực tế cho thấy, do nghĩa vụ hoàn trả tiền vay trong HĐTD thường có giá trị lớn và có tính rủi ro cao nên hầu hết các TCTD khi cho vay đều mong muốn sử dụng biện pháp bảo đảm tiền vay để phòng tránh rủi ro cho các khoản tín dụng đã cung cấp. Chính vì vậy, các hợp đồng thế chấp hiện nay được giao kết chủ yếu là nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tiền vay phát sinh từ các HĐTD giữa TCTD với khách hàng. Thực tế đó, càng chứng tỏ vai trò của các BPBĐ tiền vay nói chung và biện pháp thế chấp tài sản nói riêng đối với yêu cầu bảo đảm quyền chủ nợ cho các TCTD trong điều kiện nền kinh tế thị trường.
Thứ ba, trong quan hệ cho vay giữa TCTD với khách hàng, do TCTD rất coi trọng vai trò tác dụng của các BPBĐ nghĩa vụ trả nợ tiền vay nên hợp đồng bảo đảm nói chung và HĐTC nói riêng thường được các bên (TCTD và bên bảo đảm) giao kết thành một hợp đồng riêng, tách khỏi HĐTD, với nhiều điều khoản chi tiết và rất cụ thể. Điều này là cần thiết, vì việc giao kết một HĐTC riêng rẽ với HĐTD sẽ tạo điều kiện cho các bên có cơ hội thỏa thuận chi tiết, cụ thể và đầy đủ hơn về các điều khoản của hợp đồng bảo đảm tiền vay. Trên cơ sở đó, giúp cho việc thực hiện hợp đồng bảo đảm và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo đảm tiền vay cũng dễ dàng, thuận lợi hơn. Về tài sản thế chấp Tài sản thế chấp là tài sản phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.
Trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ gắn với tài sản đó thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Trường hợp tài sản thế chấp được bảo hiểm thì bên nhận thế chấp phải thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp.
Tổ chức bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm trực tiếp cho bên nhận thế chấp khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Trường hợp bên nhận thế chấp không thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp thì tổ chức bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm và bên thế chấp có nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận thế chấp. 123doc 9 Căn cứ khoản 8 Điều 7 Luật doanh nghiệp 2014 có quy định về quyền của doanh nghiệp như sau: “Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp”. Theo quy định của điều luật này thì công ty có quyền dùng tài sản để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán nợ và các nghĩa vụ khác của công ty.
Tuy nhiên, không phải tài sản nào thuộc quyền sở hữu của công ty đều có thể dùng làm tài sản thế chấp. Trừ một số trường hợp ngoại lệ nhất định thì chỉ có tài sản được phép giao dịch (chuyển nhượng) mới có thể dùng làm tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp cũng là một dạng của tài sản bảo đảm nên cần có ba điều kiện sau: (1) Phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm (trừ các trường hợp ngoại lệ); (2) Là tài sản không cấm giao dịch; (3) Là tài sản xác định được. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có quy định rõ ràng về thời điểm nào tài sản thế chấp cần đáp ứng ba điều kiện như trên.
Trên thực tế, bên thế chấp và bên nhận thế chấp có thể thỏa thuận là ba điều kiện trên cần được đáp ứng tại một số thời điểm nhất định quan trọng đối với bên nhận thế chấp mà không nhất thiết cần đúng phải mọi thời điểm. * Phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp Tại khoản 1 Điều 295 BLDS 2015 có quy định: “Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu”. Như vậy, trừ trường hợp cầm giữ tài sản và bảo lưu quyền sở hữu, tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm. Điều 158 BLDS 2015 quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật”.
Công ty là bên bảo đảm phải có đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Trong đó, quyền định đoạt sẽ cho phép bên bảo đảm dùng tài sản để thế chấp hoặc cầm cố cho bên nhận bảo đảm đồng thời cho phép việc chuyển nhượng TSBĐ sang người mua hay bên nhận bảo đảm trong trường hợp XLTSBĐ. Một số trường hợp ngoại lệ không cần đáp ứng ba điều kiện trên thường xảy ra trên thực tế đó là: Quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp nhà nước. Các tài sản này vẫn có quyền thế chấp trong một số trường hợp cụ thể hay có sự chấp thuận của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
* Là tài sản không cấm giao dịch Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/12/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 123doc 10 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi tắt là NĐ 11 và NĐ 163) có quy định: “Tài sản bảo đảm là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai mà pháp luật không cấm giao dịch”. Như vậy, tài sản phải “không cấm giao dịch” mới có thể là sử dụng làm TSTC. Việc XLTSTC có thể dẫn đến việc chuyển nhượng TSTC nên “không cấm giao dịch” là một điều kiện phù hợp đối với TSTC. Trên thực tế, một số loại tài sản thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp nhưng bị cấm chuyển nhượng và không được sử dụng làm TSTC trừ khi có các chấp thuận cho việc chuyển nhượng.
Các tài sản này thường bao gồm các loại sau: (1) Tài sản bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty (ví dụ như cổ phần của cổ đông sáng lập bị hạn chế chuyển nhượng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty cổ phần được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng); (2) Tài sản bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định của Luật phá sản 2014; (3) Tài sản bị cưỡng chế thi hành án; (4) Tài sản bị quốc hữu hóa. * Là tài sản xác định được Khoản 2 Điều 295 BLDS 2015 quy định: “Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được”. Điều kiện này yêu cầu TSTC phải là tài sản tồn tại trên thực tế và cho dù được mô tả chung thì vẫn phải xác định được. Đây là điều kiện rất cần thiết trong trường hợp khi TSTC là tài sản được mô tả chung và không có chi tiết cụ thể mô tả (ví dụ như tài sản thế chấp là hàng hóa, vật tư hoặc số dư trong tài khoản – vì các loại tài sản này thay đổi hàng ngày và không thể mô tả chi tiết cụ thể) và tài sản hình thành trong tương lai.