Đặt vấn đề Trong vòng hai thập kỷ qua, kinh tế thế giới đã phải trải qua nhiều biến động lớn, từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu A năm 1997 đến khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và khủng, hoảng nợ công châu Âu 2010. Nếu như phạm vi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á năm 1997 chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực và một số nước thì hai cuộc khủng hoảng gần đây đã làm cho thị trường tài chính và kinh tế toàn cầu chao đảo. Điều này khiến nhiều nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách đã phải nhìn nhận lại cách thức mà chính phủ các quốc gia đang điều hành và giám sát hệ thống tài chính của mình trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Tỷ giá hối đoái là một trong những biến vĩ mô quan trọng ảnh hưởng đến sự ồn định kinh tế của một quốc gia.
Chính vì vị lều hành chính sách tỷ giá hối đoái phù hợp nhằm kiểm soát lam phát, kiêm soát nợ nước ngoài và thâm hụt ngân sách, thúc day xuất khẩu và cải thiệt cán cân thương mại. luôn là những mục tiêu quan trọng mà chính phủ Việt Nam quan tâm. Có thé nói, từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện nhiều đợt điều chỉnh biên độ dao động tỷ giá hối đoái giữa VND/USD. Cụ thể, NHNN đã tăng biên độ dao động từ +/-3% lên +/-5% (24/3/2009) và lại giảm xuống +/-3% (26/11/2009).
Không thể tiếp tục duy trì tỷ giá như kỳ vọng, NHNN đã tuyên bố mức phá giá cao nhất trong lịch sử (9,3%) vào đầu tháng 2 năm 201 1, nâng tỷ giá chính thức lên 20.693 VND/USD và giảm biên độ xuống còn +/-1% và tiếp tục mức này cho đến giữa năm 2015. Trong 6 tháng đầu năm 2015, NHNN đã tăng tỷ giá 2 lần với tổng mức điều chỉnh là 2%, đưa tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ mức 21.246 VND/USD lên 21.458 VND/USD vào ngày 7/1/2015 và lên mức 21.673 VND/USD vào ngày 7/5/2015. Dé linh hoạt ứng phó với việc đồng nhân dân tệ (RMB) được điều chỉnh giảm giá đợt trung. tuần tháng 8/2015 (đợt phá giá mạnh nhất trong vòng 2 thập kỷ qua), ngày 12/8/2015, NHNN đã điều chỉnh tăng biên độ tỷ giá từ mức +/-1% lên +/-2%.
NHNN đã công bố điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND/USD áp dụng cho ngày 19/8/2015 từ mức 21.673 VND/USD lên 21.890 VND/USD (mức điều chỉnh tăng 1%), đồng thời điều chỉnh tăng biên độ tỷ giá từ +/-2% lên +/-3%. Với tỷ giá bình quân liên ngân hàng ở mức 21.890 VND/USD và biên độ tỷ giá +/-3%, thì ty giá tran là 22.547 VND/USD, tỷ giá sản là 21. Để tránh điều hành chính sách tỷ giá hối đoái còn mang tính bị động như giai đoạn trước, từ ngày 4/1/2016, NHNN đã áp dung cơ chế tỷ giá trung tâm được công bố hàng ngày theo quyết định 2730/QĐ-NHNN ban hành ngày 31/12/2015. Với cách thức chủ yếu tham chiếu biến động hàng ngày của r6 tiền tệ quốc tế được chọn cũng như diễn biến của tỷ giá liên ngân hàng giao dịch hôm trước, cơ chế tỷ giá trung tâm được đánh giá là đã giúp làm tăng tính “chỉ báo” hay “tín hiệu sớm” cho thị trường, là “bộ giảm chan” cho những cú sốc xảy ra đối với các hoạt động thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế, đặc biệt giúp làm giảm hành vi đầu cơ, gam giữ hay nguy cơ “tắn công tiền tệ”, và đáp ứng tốt hơn sự ràng buộc theo lý thuyết “bộ ba bat khả thỉ”!.
Một điểm được cho là mới trong cơ chế tỷ giá trung tâm là chuyền sang chế độ tỷ giá “trườn bò” cho phép tỷ giá biến động với tần suất lớn hơn (tuần suất hàng ngày) nhưng ở mức độ nhỏ, không tạo ra những cú sốc lớn. Nhưng cơ chế ' Lý thuyết bộ ba bắt khả thi (impossible trinity) (Mundell 1963; Fleming, 1962) chỉ ra ra rằng một quốc gia không thể đồng thời thực hiện được ba chính sách: (1) ôn định giá trị đồng bản tệ, (2) độc lập/tự chủ trong chính sách kinh té/tién tệ, và (3) hội nhập tài chính/tự do lưu chuyển vốn với các quốc gia khác. 1 “trườn bè” này chỉ mang lại tác dụng như kỳ vọng nếu việc xác định ty giá trung tâm là khách quan, trung thực, minh bach và hợp lý, nếu không cơ chế “trườn bò” này cũng không khác gì cơ chế “neo” tỷ giá như trước đây. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào công bố luận giải sự lựa chọn r6 tiền tệ gồm các đồng tiền của 8 nước như hiện nay là hợp lý và tỷ lệ tham chiếu vào từng đồng tiền là bao nhiêu? Câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ nữa rằng lí tỷ giá trung tâm đang áp dụng hiện nay có thực sự khác biệt và giúp tỷ giá dễ dàng điều chỉnh đề gần sát với tỷ giá hối đoái cân bằng giúp nền kinh tế đạt được cân đối bên trong và bên ngoài hay không? Do đó, đề tài này đã áp dụng phương pháp PPP sử dụng số liệu từ bảng cân đối liên ngành để tính tỷ giá hối đoái cân bằng (EER) và sai lệch tỷ giá hồi đoái giữa VND/USD.
Đối với phương pháp VECM (Vector Error Correction Model), đề tài tính EER và sai lệch tỷ giá hối đoái giữa VND/USD trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2018 nhưng với phương pháp PPP đề tài chỉ tính được EER đến được năm 2012 do sự hạn chế về số liệu công bố bảng cân đối liên ngành của Việt Nam mới dừng đến thời điểm 2012. Mặc dù vậy, đây vẫn là điểm mới của dé tai vì chúng tôi đã phát triển lý thuyết ngang giá sức mua (PPP), không chi sử dung chỉ số CPI theo truyền thống như trước đây mà đã dựa vào số liệu chỉ tiết về sự khác biệt về lương, năng suất lao động, giá cả đầu vào nhập khẩu từ các nước đối tác của từng ngành để từ đó tính toán sai lệch tỷ giá hối đoái cho VND. Ngoài ra, chúng tôi cũng tính toán tác động của tỷ giá hối đoái tới giá cả nhập khẩu bằng cách tính sự dịch chuyền của ty giá hối đoái giữa VND so với các đồng tiền dang tham chiếu trong rổ tiền tệ mà Việt Nam lựa chọn vào mức giá nhập khâu từ các nước có. đồng tiền tham chiếu đó.
Kết quả nghiên cứu tính toán sai lệch của tỷ giá hối đoái danh nghĩa và thực tế góp phần đánh giá hiệu quả của chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam đang áp dụng hiện nay đối với việc duy trì cân đối bên trong và cân đối bên ngoài của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, kết quả kiểm định chính sách tỷ giá trung tâm cũng giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có thêm thông tin dé áp dụng các nghiệp vụ phái sinh phù hop trong tương lai. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ở cấp độ ngày càng sâu rộng đã góp phần vào sự phát triển của hệ thống tài chính toàn cầu nói chung và từng quốc gia nói riêng. Bên cạnh việc mang lại những cơ hội lớn cho mỗi quốc gia, tiền trình hội nhập cũng tiềm an những nguy co bat ôn dẫn tới khủng hoảng.
Những bat ồn vĩ mô mang tính hệ thông có thê xuất phát từ sự mắt cân đối bên trong (internal imbalance) và mat cân đối bên ngoài (external imbalance) của một nền kinh tế (Peter Isard, 1995 và 2007)?. Chính những mắt cân đối nay là một trong các nguyên nhân gây ra nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới trong quá khứ như khủng hoảng nợ của các nước châu Mỹ Latinh vào thập niên 1980, khủng hoảng kinh tế ở Mexico (1994- 1995), khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á (1997- 1998), và khủng hoảng nợ công Châu Au 2010. Theo Williamson (1994), tỷ giá héi đoái cân bằng là ? Cân đối bên trong đạt được khi nền kinh tế đạt sản lượng tiềm năng và công ăn việc làm đầy đủ (tỷ lệ thất nghiệp thấp), còn cân đối bên ngoài được xác định bởi một cán cân thanh toán bền vững trong trung hạn, tức là mức thặng dư/thâm hụt tài khoản văng lai phù hợp với dòng chảy ra/vào của vốn trong dài han. khi có sự sai lệch nl inh trong tỷ giá hối đoái cũng đồng nghĩa với sự xuất hiện những nguy cơ tiềm ấn gây mắt ổn định đối với cân bằng tông thé của nền kinh tế.
Do đó, các vấn dé liên quan đến lựa chọn chính sách tỷ giá hối đoái trong mối tương quan giữa biến động của tỷ giá hối đoái với các biến vĩ mô trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, ước lượng tỷ giá hối đoái cân bằng, và kinh nghiệm quốc tế về điều hành chính sách tỷ giá hối đoái nhằm góp phần ồn định và tăng trưởng kinh tế đã luôn là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách quan tâm. Các nghiên cứu liên quan tới lựa chọn cơ chế tỷ giá và chính sách tỷ giá hối đoái Nghiên cứu về vấn dé lựa chọn chính sách tỷ giá hối đoái phù hợp cho mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triên luôn thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế. Theo Frankel (1999), không có một chính sách tỷ giá duy nhất cho tất cả các quốc gia cũng như không thể chỉ áp dụng một cơ chế tỷ giá cho mọi thời kỳ của một nền kinh tế. Việc lựa chọn chính sách tỷ giá và những chính sách liên quan là vấn đề khó khăn.
phức tạp, và phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thê của từng quốc gia trong từng thời kỳ nhất ¡nh. Nhiêu nghiên cứu trong đó có Mussa và cộng sự (2000), Husain và cộng sự (2005), Bleaney và cộng sự (2016) cho rằng khả năng luân chuyển vốn là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hội nhập tài chính của một quốc gia và tác dong đến khả năng lựa chọn chính sách tỷ giá. Bên cạnh đó, việc lựa chọn cơ chế ty giá còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế trong nước và vào khả năng quản trị hệ thống tài chính ngân hàng của quốc gia đó. Ngoài ra, việc lựa chọn chính sách tỷ giá của một quốc gia còn cần phải quan tâm xem liệu quốc gia đó có thể duy trì được các mục tiêu đề ra khi tuyên bố áp dụng chính sách tỷ giá đó như đã hứa hay không.