Luận văn thạc sĩ về xu hướng nghề sư phạm của sinh viên ngành mầm non tại Cao đẳng Bình Định

Luận văn thạc sĩ giáo dục phân tích tâm lý học xu hướng nghề sư phạm của học sinh sinh viên ngành mầm non trường cao đẳng bình định, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

135
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.5. Giả thuyết khoa học

1.6. Phương pháp nghiên cứu

1.7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

1.8. Phạm vi nghiên cứu

1.9. Cấu trúc của luận văn

2. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XU HƯỚNG NGHỀ SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN

2.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.2. Nghiên cứu ở nước ngoài

2.3. Nghiên cứu ở Việt Nam

3. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU XU HƯỚNG NGHỀ SƯ PHẠM CỦA HỌC SINH, SINH VIÊN MẦM NON TRƯỜNG CAO ĐẲNG BÌNH ĐỊNH

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về xu hướng nghề sư phạm của sinh viên ngành mầm non

Xu hướng nghề sư phạm của sinh viên ngành mầm non tại Cao đẳng Bình Định đang trở thành một chủ đề nóng trong bối cảnh giáo dục hiện nay. Ngành mầm non không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách trẻ em mà còn là một trong những lĩnh vực cần thiết trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nghiên cứu cho thấy rằng, sự lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên ngành mầm non không chỉ phụ thuộc vào sở thích cá nhân mà còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như hoàn cảnh gia đình, định hướng nghề nghiệp và nhu cầu thị trường lao động.

1.1. Đặc điểm của sinh viên ngành mầm non tại Cao đẳng Bình Định

Sinh viên ngành mầm non tại Cao đẳng Bình Định thường có độ tuổi trẻ, năng động và đầy nhiệt huyết. Họ thường đến từ các vùng nông thôn, nơi mà giáo dục mầm non chưa được chú trọng. Điều này tạo ra một động lực mạnh mẽ cho họ trong việc theo đuổi nghề sư phạm, với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại quê hương.

1.2. Tầm quan trọng của nghề sư phạm trong xã hội hiện đại

Nghề sư phạm, đặc biệt là giáo viên mầm non, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách và phát triển trí tuệ của trẻ em. Theo nghiên cứu, giáo viên mầm non không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người hướng dẫn, chăm sóc và phát triển toàn diện cho trẻ. Điều này càng khẳng định giá trị của nghề sư phạm trong xã hội hiện đại.

II. Vấn đề và thách thức trong xu hướng nghề sư phạm

Mặc dù nghề sư phạm có nhiều giá trị, nhưng sinh viên ngành mầm non tại Cao đẳng Bình Định vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt về nhận thức và định hướng nghề nghiệp. Nhiều sinh viên chọn nghề sư phạm chỉ vì áp lực từ gia đình hoặc xã hội mà không thực sự hiểu rõ về nghề nghiệp này.

2.1. Nhận thức về nghề sư phạm của sinh viên

Nhiều sinh viên chưa có nhận thức đầy đủ về vai trò và trách nhiệm của giáo viên mầm non. Họ thường nghĩ rằng nghề này chỉ đơn giản là chăm sóc trẻ mà không hiểu rằng nó đòi hỏi nhiều kỹ năng và kiến thức chuyên môn.

2.2. Tác động của thị trường lao động đến xu hướng nghề nghiệp

Thị trường lao động hiện nay đang có nhiều biến động, điều này ảnh hưởng đến quyết định chọn nghề của sinh viên. Nhiều sinh viên ngành mầm non lo ngại về cơ hội việc làm và mức thu nhập sau khi ra trường, dẫn đến sự chần chừ trong việc theo đuổi nghề sư phạm.

III. Phương pháp nâng cao xu hướng nghề sư phạm cho sinh viên

Để nâng cao xu hướng nghề sư phạm cho sinh viên ngành mầm non, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm về nghề sư phạm sẽ giúp sinh viên có cái nhìn rõ hơn về nghề nghiệp của mình.

3.1. Tổ chức các buổi hội thảo nghề nghiệp

Các buổi hội thảo nghề nghiệp sẽ giúp sinh viên có cơ hội giao lưu, học hỏi từ những người đi trước. Điều này không chỉ giúp họ hiểu rõ hơn về nghề sư phạm mà còn tạo động lực cho họ trong việc theo đuổi nghề nghiệp.

3.2. Đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên

Đào tạo kỹ năng mềm như giao tiếp, quản lý lớp học và kỹ năng giải quyết vấn đề là rất cần thiết cho sinh viên ngành mầm non. Những kỹ năng này sẽ giúp họ tự tin hơn khi bước vào nghề nghiệp.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, việc nâng cao xu hướng nghề sư phạm cho sinh viên ngành mầm non không chỉ giúp họ tự tin hơn trong nghề nghiệp mà còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non tại địa phương. Nhiều sinh viên sau khi tham gia các hoạt động ngoại khóa đã có sự thay đổi tích cực trong nhận thức về nghề sư phạm.

4.1. Kết quả khảo sát về xu hướng nghề sư phạm

Kết quả khảo sát cho thấy rằng, hơn 70% sinh viên ngành mầm non có ý thức cao về vai trò của giáo viên trong việc phát triển trẻ em. Điều này cho thấy sự thay đổi tích cực trong nhận thức của sinh viên về nghề sư phạm.

4.2. Ảnh hưởng của các hoạt động ngoại khóa đến sinh viên

Các hoạt động ngoại khóa như tình nguyện, tham gia các dự án giáo dục đã giúp sinh viên có cái nhìn thực tế hơn về nghề sư phạm. Họ không chỉ học hỏi được nhiều kỹ năng mà còn cảm nhận được giá trị của nghề nghiệp này.

V. Kết luận và tương lai của nghề sư phạm

Nghề sư phạm, đặc biệt là ngành mầm non, có vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực cho xã hội. Tương lai của nghề này phụ thuộc vào sự nỗ lực của các cơ sở đào tạo trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và định hướng nghề nghiệp cho sinh viên.

5.1. Tương lai của nghề sư phạm tại Cao đẳng Bình Định

Với sự phát triển của xã hội, nghề sư phạm sẽ ngày càng được coi trọng. Cao đẳng Bình Định cần tiếp tục cải thiện chương trình đào tạo để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.

5.2. Định hướng phát triển nghề sư phạm trong tương lai

Cần có những chính sách hỗ trợ cho sinh viên ngành mầm non, từ việc tạo cơ hội việc làm đến việc nâng cao chế độ đãi ngộ cho giáo viên. Điều này sẽ giúp thu hút nhiều sinh viên hơn đến với nghề sư phạm.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ tâm lý học xu hướng nghề sư phạm của học sinh sinh viên ngành mầm non trường cao đẳng bình định

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XU HƯỚNG NGHỀ SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Xu hướng nghề nghiệp là một vấn đề rộng và có ý nghĩa lớn về lý luận và thực tiễn. Vấn đề này đã được nghiên cứu khá nhiều trên thế giới, đặc biệt ở Liên Xô cũ vào những năm 60, 70 của thế kỷ XX tuy nhiên mỗi công trình nghiên cứu lại xem xét XHN ở một góc độ khác nhau.

Khi nghiên cứu về XHN, các nhà tâm lý học đã đi theo nhiều hướng nhằm giải quyết các vấn đề lớn sau: nhận thức về nghề, hứng thú nghề nghiệp; dự định nghề nghiệp; động cơ lựa chọn nghề nghiệp. Nghiên cứu về nhận thức nghề nghiệp có các tác giả như: I.S Côn cho rằng: Thanh niên hãy còn biết rất ít cả những thuộc tính thực tế của những nghề hấp dẫn họ và cả những yêu cầu mà các nghề đó đề ra cho người lao động, lẫn những khả năng tiềm tàng của bản thân mình [31, tr. nghiên cứu về hứng thú nghề nghiệp của học sinh đã đi đến kết luận: Hứng thú nghề nghiệp nảy sinh và phát triển ngay từ khi trẻ em còn học ởtrường phổ thông, chịu ảnh hưởng của tâm lý lứa tuổi và đặc điểm giới tính. Nhìn chung học sinh thích những nghề công nghiệp hơn là nông nghiệp và phục vụ.

Nhiều tác giả như: V. đã nghiên cứu về dự định nghề và đưa ra nhận xét: học sinh phổ thông trung học thường có dự định mong muốn được tiếp thu nền học vấn cao, không thích đi làm ngay. Sự lựa chọn nghề của học sinh do nhiều động cơ khác nhau thúc đẩy. đều có những công trình nghiên cứu về vấn đề này.S Côn thì các nguyên nhân hấp dẫn học sinh lựa chọn một nghề nào đó là do tính chất sáng tạo của lao động, ý nghĩa xã hội của nghề nghiệp và quy mô tiền lương [11].A Cruchetxki cho rằng nghề được chọn phù hợp với nguyện vọng cá nhân khuynh hướng cá nhân đối với một dạng lao động nhất định, các năng lực đối với dạng lao động ấy và sự đánh giá các ý nghĩa xã hội của nó được kết hợp nhuần nhuyễn với nhau mang lại sự thoả mãn về mặt đạo đức cho con người và lợi ích tối đa cho xã hội.

Theo ông sự kết hợp giữa nguyện vọng, khả năng của cá nhân với ý nghĩa xã hội của nghề nghiệp trong sự lựa chọn nghề là những yếu tố giúp cho quá trình chọn nghề đạt hiệu quả tốt [12]. Khi nghiên cứu về XHNSP các nhà tâm lý học đã đi theo các hướng sau: bản chất và cấu trúc của XHNSP; đặc điểm nguồn gốc của XHNSP; các giai đoạn và điều kiện hình thành XHNSP. ­ Khi nghiên cứu về bản chất và cấu trúc của XHNSP, các tác giả: A. cho rằng là thái độ cảm xúc ­ giá trị đối với nghề giáo viên, là biểu hiện nhận thức dương tính về công việc của người giáo viên.

Còn đối với: Ph.N Leonchiev, cho 13 rằng bản chất XHNSP là phẩm chất có ý nghĩa nghề nghiệp của nhân cách người giáo viên. Cùng với việc xác định bản chất, cấu trúc của XHNSP các tác giả cũng đưa ra các cách phân chia các kiểu XHNSP: Như I.V Fastoves đã phân chia các kiểu XHNSP gồm các thành phần sau: Xu hướng công việc, xu hướng vị tha, xu hướng cá nhân. Sự chú ý đặc biệt trong công trình được dành cho nghiên cứu xu hướng vị tha của giáo viên. ­ Nghiên cứu đặc điểm nguồn gốc của XHNSP, các tác giả cho rằng nguồn gốc của XHNSP là động cơ hoạt động sư phạm.

Hiệu quả hoạt động sư phạm phần lớn phụ thuộc vào cường độ và cấu trúc động cơ nghề nghiệp của người thầy giáo. Khi nghiên cứu động cơ hoạt động sư phạm A.K Baimetov đã gộp sự đa dạng của chúng thành ba nhóm: Động cơ nghĩa vụ; động cơ hứng thú say mê môn học; động cơ say mê giao tiếp với trẻ em ­ “Tình yêu đối với trẻ em”. ­ Nghiên cứu về các giai đoạn và điều kiện hình thành XHNSP. Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, người ta phân chia bốn giai đoạn phát triển xu hướng: + Bộc lộ hứng thú đối với nghề nghiệp như là sự phản ánh nhu cầu có nghề.

+ Hình thành hứng thú ổn định đối với hoạt động nghề nghiệp. + Hình thành khát vọng, mục đích nắm vững các cơ sở của tài nghệ sư phạm. + Hình thành tổ hợp các phẩm chất có ý nghĩa nghề nghiệp đối với lao độngcủa giáo viên. Như vậy, việc nghiên cứu về vấn đề XHN đã được nhiều tác giả nước ngoài nghiên cứu.

Riêng về lĩnh vực XHNSP, một phạm vi của xu hướng nghề còn ít được chú ý. Từ các công trình nghiên cứu trên của các tác giả chúng tôi nhận xét một cách khái quát về tình hình nghiên cứu XHNSP như sau: ­ Hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, trọn vẹn và chuyên sâu về XHNSP về cả lý luận và thực tiễn, mà đi theo các hướng như: xác định bản chất và cấu trúc của XHNSP; nghiên cứu đặc điểm nguồn gốc của nó; 14 nghiên cứu các giai đoạn và điều kiện hình thành XHNSP. ­ Các công trình nghiên cứu hầu như chưa nghiên cứu tổng thể về các biểu hiện của XHNSP, chưa vạch ra được một cách rõ ràng con đường, biện pháp hình thành, phát triển XHNSP. ­ Các công trình chưa đi sâu nghiên cứu về XHNSP của SV sư phạm, đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu về XHNSP của SV sư phạm mầm non.

Nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam việc nghiên cứu XHN, XHNSP đã được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau như: nguyện vọng lựa chọn nghề nghiệp, hứng thú nghề nghiệp, dự định nghề nghiệp, động cơ nghề nghiệp. Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết nghiên cứu sự lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 10 (cũ) và tìm ra mối quan hệ của đặc điểm phát triển tâm lý của học sinh lớp 10 với nguyện vọng lựa chọn nghề nghiệp, mối quan hệ của vấn đề nhận thức vị trí của các nghề trong xã hội với nguyện vọng lựa chọn nghề nghiệp, mối quan hệ của ước mơ lý tưởng với sự hình thành nguyện vọnglựa chọn nghề nghiệp [42]. Sau đó, tác giả Phạm Tất Dong và các cộng sự đã nghiên cứu về nhiều khía cạnh khác nhau của xu hướng nghề như: nguyện vọng chọn nghề, hứng thú nghề nghiệp sự lựa chọn nghề nghiệp, dự định nghề nghiệp, những nhân tố tác động đến sự hình thành xu hướng nghề của học sinh cấp 3. Kết quả nghiên cứu cho thấy: đa số học sinh có xu hướng muốn có trình độ học vấn đại học trước khi đi vào lao động phục vụ.

Xu hướng chọn nghề ở HS nam và nữ là khác nhau đo đặc điểm lứa tuổi, giới tính và nó cũng ảnh hưởng đến sự phân hoá hứng thú nghề nghiệp [14]. Các tác giả Nguyễn Mạnh Trang, Trần Thế Linh, Bùi Thị Phương Mai, Đỗ Thị Hậu đã nghiên cứu XHN của học sinh phổ thông và ảnh hưởng của nó đến tính tích cực học tập. Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu của các tác giả khác như: ­ Đề tài “Xu hướng nghề nghiệp” của tác giả Nguyễn Quang Uẩn và cộng 15 sự đã nghiên cứu về đặc điểm XHN của HS thành phố và kết luận: Nhận thức về nghề của HS còn yếu, số nghề và các trường chuyên nghiệp được HS biết đến chưa nhiều. Hứng thú nghề nghiệp của HS hình thành muộn, chưa tập trungvà chưa rõ nét [30].

­ Công trình của tác giả Đỗ Mộng Tuấn nghiên cứu về động cơ và xu hướng nghề nghiệp của SV có nhận xét: Các động cơ mang ý nghĩa xã hội là động cơ chọn nghề chủ yếu của đa số SV sư phạm và xu hướng nghề nghiệp của SV sư phạm tương đối ổn định. trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra những kiến nghị nhằm hình thành xu hướng nghề nghiệp cho SV [39]. ­ Tác giả Đỗ Thị Châu tìm hiểu “Xu hướng sư phạm của thanh niên trong tình hình đổi mới kinh tế ­ xã hội” đã nhận xét: Xu hướng sư phạm của thanh niên vẫn chưa ổn định do chủ yếu là vấn đề chế độ đãi ngộ (trong đó có vấn đề tiền lương) đối với giáo viên vẫn chưa thỏa đáng [9]. ­ Tác giả Phan Thị Tố Oanh đã tiến hành nghiên cứu “Nhận thức nghề và dự định chọn nghề của học sinh phổ thông trung học”.

Nghiên cứu cho thấy: Nhận thức về nghề của học sinh mới dừng ở những biểu hiện bên ngoài của nghề mà chưa đi sâu tìm hiểu những đặc trưng riêng của từng nghề và đối chiếu yêu cầu đó với những đặc điểm cá nhân [30]. ­ Tác giả Đào Thị Oanh nghiên cứu về “Xu hướng nghề nghiệp của học sinh trung học” đã nhận xét: Nhìn chung học sinh trung học chưa định hình một khuynh hướng nghềnghiệp cụ thể. Các hứng thú mới chỉ dừng lại ở chỗ thỏa mãn nhu cầu thích hiểu biết. Một số nghề hiện nay xã hội đang có nhu cầu cao về nhân lực lại chưa được học sinh định hướng vào do sự thiếu thông tin, thiếu gắn bó với những lĩnh vực tri thức về các ngành nghề đó [29].

Nhìn chung, việc nghiên cứu XHN, XHNSP đã được nhiều tác giả trong nước nghiên cứu. Tuy nhiên từ các công trình nghiên cứu trên của các tác giả chúng tôi có nhận xét khái quát sau: ­ Hầu như chưa có công trình nghiên cứu sâu, trọn vẹn về XHN, mà chỉ nghiên cứu từng góc độ khác nhau của XHN như: nguyện vọng lựa chọn nghề 16 nghiệp, hứng thú nghề nghiệp, dự định nghề nghiệp, động cơ nghề nghiệp. ­ Các công trình nghiên cứu về XHNSP rất ít, chưa có một nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu tổng thể về XHNSP với các mặt biểu hiện của nó. ­ Các công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu trên khách thể là HS, việc nghiên cứu ở lứa tuổi SV còn rất hạn hẹp, đặc biệt SV sư phạm ngành mầm non.

Một số khái niệm, thuật ngữ có liên quan 1. Khái niệm xu hướng Trong sinh hoạt, học tập, lao động, nói chung trong toàn bộ cuộc sống mỗi con người bao giờ cũng hướng về một mục tiêu nào đó mà mình xem là có nhiều ý nghĩa đối với bản thân, sự hướng về mục tiêu này thường không phải chỉ diễn ra trong ngày một, ngày hai, mà trái lại nó có tính chất lâu dài, tương đối ổn định. Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm xu hướng: Các nhà khoa học Anh định nghĩa: Xu hướng là con đường mà một người hoặc một vật hướng tới để trở thành hoặc hành động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ