Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÓA ÁN TÍCH THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ÁN TÍCH 1. Khái niệm án tích Nghiên cứu lịch sử chế định xóa án tích trong LHS nước ta, cho thấy đến trước khi BLHS đầu tiên được thông qua năm 1985, vấn đề án tích chưa được pháp điển hóa trong một văn bản pháp luật hình sự (PLHS) nào. Do đó, trên thực tế về vấn đề xóa án tích chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về khái niệm, bản chất, nội dung chế định xóa án tích.
BLHS năm 1985 đã có quy định chế định xóa án tích, nhưng chưa đưa ra được định nghĩa pháp lý về chế định này nên trong thực tiễn áp dụng có sự nhận thức và cách hiểu khác nhau về vấn đề này. Trong khoa học luật hình sự, khái niệm án tích, đặc điểm cũng như bản chất và ý nghĩa của án tích chưa được hiểu một cách thống nhất và phù hợp.TS Phạm Hồng Hải, “Án tích là hậu quả pháp lý của bản án kết tội mà Toà án tuyên đối với người phạm tội” [12, tr. Tác giả cho rằng định nghĩa này còn có điểm chưa phù hợp, đó là: Thứ nhất, không phải bất kỳ ai bị Toà án kết án đều phải mang án tích và đều phải chịu hậu quả pháp lý nhất định mà chỉ những người bị Tòa án kết án và phải chịu hình phạt và phạm tội mới trong thời gian còn mang án tích mới phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi đó là án tích, án tích sẽ là tình tiết định tội danh hoặc tình tiết tăng nặng, tình tiết định khung ở phần các tội phạm cụ thể. Thứ hai, cần được hiểu án tích không phải là hậu quả pháp lý phát sinh sau khi người đó phạm tội mà đó là những điều kiện, quy định trước để nhằm tạo ra sự thử thách với những người bị kết án, đã chấp hành xong bản án, chưa hết thời hạn để được coi là đã được xóa án tích.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ ba, nghiên cứu thực tiễn áp dụng BLHS 1985, thông qua các tài liệu như Bản kết luận điều tra; Bản cáo trạng và Bản án của Toà án nhận thấy các văn bản này thường tồn tại việc sử dụng cụm từ “Tiền án” thay cho cách hiểu đó là bản án kết tội trước đó chưa được xoá án (án tích), việc sử dụng cụm từ “tiền án” thay cho việc xác định người đó chưa được xóa án tích như vậy chưa phản ánh đúng bản chất pháp lý của án tích trong pháp luật hình sự. Ở nước ngoài, GS.TSKH luật Vittenberg G.B cho rằng: "Án tích là tình trạng pháp lý hình sự đối với chủ thể do việc người này bị Tòa án xử phạt một biện pháp hình phạt nào đó về tội phạm đã thực hiện" [35, tr.TSKH luật Rarôg A.L thì nhấn mạnh: "Án tích là tình trạng pháp lý đặc biệt của người bị kết án một hình phạt đối với tội đã phạm và tình trạng này được bắt đầu từ khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật và tiếp diễn cho đến thời điểm hết hoặc xóa án tích" [36, tr. Qua nghiên cứu cho thấy có những quan điểm khác nhau về án tích. Theo tác giả để định nghĩa án tích một cách chính xác nhất thì trong định nghĩa án tích, cần phải chỉ ra được bản chất pháp lý, điều kiện, nội dung cũng như giới hạn nó.
Về bản chất pháp lý: Án tích là sự kiện pháp lý hình sự mà người bị kết án phải chịu trong khoảng thời theo quy định của pháp luật. Về điều kiện: Án tích chỉ phát sinh khi bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật và người bị kết án bị áp dụng một hình phạt nào đó theo quy định của pháp luật hình sự. Giới hạn của án tích: Án tích chỉ tồn tại trong khoảng thời gian từ khi bản án kết tội của Toà án có hiệu lực pháp luật cho đến khi được xoá án tích (đương nhiên xoá án tích hoặc xoá án tích theo quyết định của Toà án Như vậy, từ những nghiên cứu và phân tích nêu trên, trên cơ sở công tác thực tiễn áp dụng pháp luật về án tích, chúng ta có thể đưa ra một khái 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niệm mang tính khoa học về án tích như sau: Án tích là sự kiện pháp lý hình sự phát sinh khi người phạm tội bị kết án, phải chịu hình phạt theo quyết định của bản án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án đó phải gánh chịu án tích trong khoảng thời gian nhất định kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi án tích đó được xoá bỏ theo quy định của pháp luật. Các đặc điểm của án tích Thứ nhất, án tích là sự kiện pháp lý hình sự phát sinh khi người phạm tội bị kết án, phải chịu hình phạt theo quyết định của bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Án tích chỉ nên coi là sự kiện pháp lý hình sự, bởi lẽ sự kiện đó có quá trình phát sinh, hình thành và mất đi (xóa bỏ), sự kiện đó phát sinh khi người phạm tội bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật và người bị kết án đó phải chịu một trong các hình phạt mà pháp luật hình sự đã quy định. Không phải bất cứ người phạm tội nào bị kết án đều phải chịu án tích mà chỉ người nào bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật và phải chịu hình phạt thì mới phát sinh án tích. Trường hợp người bị kết án nhưng được miễn hình phạt, nhưng bị áp dụng các biện pháp tư pháp như đưa vào trường giáo dưỡng; giáo dục tại phường, xã, thị trấn theo quy định tại Điều 70 BLHS, hoặc bị áp dụng biện pháp buộc công khai xin lỗi, bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 42 BLHS. thì sẽ không làm phát sinh sự kiện pháp lý về án tích.
Đây cũng chính là đặc trưng cơ bản của chế định xoá án tích, nó thể hiện mức độ nghiêm khắc của pháp luật đối với tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội và nhân thân của người phạm tội khi bị kết án đó là phải chịu hình phạt. Theo Điều 26 BLHS năm 1999 thì hình phạt: “là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước”. Thứ hai, người mang án tích thì phải gánh chịu những bất lợi nhất định, cụ thể: Người mang án tích, trong lý lịch tư pháp cũng như các giấy tờ chứng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực về nhân thân của người phạm tội sẽ bị xác nhận là “tiền án”, đồng thời chỉ rõ loại tội phạm cũng như hình phạt dành cho người phạm tội đó. Khi đó, án tích như một “vết nhơ” trong lý lịch của người phạm tội, dẫn tới sự kỳ thị của xã hội cũng như gây khó khăn trong quá trình sinh hoạt, tham gia hoạt động xã hội và hoạt động kinh tế của chính những người mang án tích đó.
Thực tiễn cho thấy hiện nay Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội đang tích cực tuyên truyền làm tốt công tác chống kỳ thị, phận biệt đối xử với những người có quá khứ phạm tội bằng các chương trình hành động cụ thể như: chính sách tạo điều kiện giúp người phạm tội tái hoà nhập cộng đồng; tạo điều kiện để những người đã từng bị kết án rèn luyện phấn đấu, khẳng định sự hòa nhập cộng đồng và là những con người sống có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên đối với người bị kết án chưa được xoá án tích, mà chúng ta thường gọi họ là người “có tiền án” thì pháp luật vẫn cần phải có những hạn chế nhất định đối với người bị kết án đó. Qua đó thể hiện tính nghiêm khắc của pháp luật và hậu quả pháp lý bất lợi mà họ phải gánh chịu, nếu họ không thể hiện rõ ý thức phấn đấu, hoàn lương, chấp hành tốt mọi chủ chương, chính sách, pháp luật. Chính vì vậy một số lĩnh vực pháp luật đã có những quy định hạn chế quyền của người phạm tội khi còn mang án tích.
Ví dụ: Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định: điều kiện của người nhận nuôi con nuôi “người chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em” thì sẽ không được nhận nuôi con nuôi. Việc người phạm tội còn mang án tích sẽ phải chịu hậu quả pháp lý hình sự nghiêm khắc hơn cả, chính ở lần phạm tội mới đó, án tích là căn cứ để xác định hành vi của người đó có cấu thành tội phạm hay không hoặc là điều kiện, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com căn cứ để xác định là tái phạm, tái phạm nguy hiểm hay không. Nói cách khác án tích sẽ là điều kiện, cơ sở để định tội danh hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay là tình tiết định khung hình phạt cho hành vi của người phạm tội khi còn mang án tích. Án tích với các thuộc tính cơ bản như: Thứ ba, người bị kết án đó phải gánh chịu án tích trong khoảng thời gian nhất định kể từ khi bản án đó có hiệu lực pháp luật đến khi án tích được xoá bỏ theo quy định.
Việc kết án là một sự kiện khách quan và không gì có thể xóa bỏ được sự kiện bị kết án của người phạm tội, trừ khi theo quy định của pháp luật họ được xác định là đã được xoá án tích. Tuy nhiên, án tích lại không phải là đặc điểm về nhân thân có tính chất vĩnh viễn đối với bản thân người phạm tội, mà với tính chất nhân đạo của pháp luật hình sự về án tích là nhằm giúp xóa bỏ mặc cảm tội lỗi của người đã từng bị kết án, giúp họ tái hòa nhập với cộng đồng, BLHS đã quy định, án tích chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định và khi đáp ứng đủ điều kiện luật định thì án tích đó được xóa bỏ. Tùy từng loại tội phạm cũng như mức hình phạt và ý thức chấp hành án của người bị kết án mà pháp luật hình sự đưa ra những điều kiện cụ thể về nhân thân (không phạm tội mới, có ý thức cải tạo, hòa nhập với xã hội tốt; có thành tích xuất sắc, lập công.