Tổng quan luận án

Công trình "Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự" của tác giả Lê Văn Luật là luận án tiến sĩ luật học, chuyên ngành Luật hình sự (mã số: 62 38 40 01), được bảo vệ năm 2014 tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TSKH. Lê Văn Cảm và TS. Phạm Mạnh Hùng.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp tại Việt Nam. Trong hệ thống pháp luật hình sự, nguyên tắc trách nhiệm do lỗi (còn được gọi là nguyên tắc lỗi, nguyên tắc trách nhiệm hình sự trên cơ sở lỗi, hay nguyên tắc có lỗi) giữ vai trò nền tảng, là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ các quy phạm thuộc Phần chung và Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự (BLHS). Tuy nhiên, pháp luật hình sự thực định và thực tiễn áp dụng còn bộc lộ nhiều hạn chế:

  • Pháp luật hình sự chưa ghi nhận về mặt lập pháp định nghĩa pháp lý về lỗi, khái niệm người có lỗi hình sự, khái niệm hỗn hợp lỗi và nguyên tắc lỗi vô ý.
  • Hình thức lỗi chưa được quy định với tính chất là dấu hiệu bắt buộc của mọi cấu thành tội phạm tăng nặng.
  • Thực tiễn xét xử còn tồn tại tình trạng đánh giá chưa chính xác tính chất và mức độ lỗi khi quyết định hình phạt, thiếu thống nhất trong xác định hình thức lỗi ở một số tội phạm cụ thể, dẫn đến sai sót trong truy tố, xét xử và lượng hình.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: Kể từ các lần pháp điển hóa năm 1985 và năm 1999, khoa học luật hình sự Việt Nam chưa có công trình chuyên khảo nào ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi cả về phương diện lý luận lập pháp lẫn thực tiễn áp dụng.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Xây dựng hệ thống tri thức lý luận về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong Luật hình sự Việt Nam.
  2. Khẳng định giá trị lịch sử hình thành và phát triển của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi qua các thời kỳ lập pháp hình sự.
  3. Làm rõ mối quan hệ giữa nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự Việt Nam trong sự so sánh với luật hình sự một số quốc gia trên thế giới.
  4. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 5 nhiệm vụ cụ thể):

  1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về lỗi hình sự và nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong Luật hình sự Việt Nam, luận giải cơ sở lý luận của việc nghiên cứu nguyên tắc này.
  2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi; phân tích mối quan hệ giữa nguyên tắc trách nhiệm do lỗi với các nguyên tắc khác của Luật hình sự.
  3. Phân tích sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong BLHS năm 1999 (có so sánh với luật hình sự nước ngoài), chỉ ra các bất cập, hạn chế.
  4. Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử dưới góc độ đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi.
  5. Đưa ra các quan điểm và đề xuất hoàn thiện BLHS cũng như giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các luận điểm khoa học về lỗi và nguyên tắc trách nhiệm do lỗi; hệ thống quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam từ thời kỳ phong kiến, sau Cách mạng Tháng Tám 1945, BLHS năm 1985 đến BLHS năm 1999; các quy định pháp luật hình sự của một số nước; thực tiễn xét xử án hình sự của ngành Tòa án.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các vấn đề lý luận chung về lỗi và nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong Luật hình sự Việt Nam; sự thể hiện của nguyên tắc trong BLHS năm 1999; thực tiễn áp dụng trong xét xử và định hướng hoàn thiện BLHS năm 1999.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Vấn đề lỗi và nguyên tắc trách nhiệm do lỗi đã được đề cập trong nhiều công trình khoa học pháp lý trong và ngoài nước:

1. Sách chuyên khảo và giáo trình trong nước:

  • GS. TSKH. Lê Văn Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
  • GS. TS. Nguyễn Ngọc Hòa (1991), Tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, Nxb CAND; (2004), Cấu thành tội phạm - lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp; (2005), Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb CAND.
  • Giáo trình Luật hình sự của các cơ sở đào tạo luật: Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.

2. Luận văn thạc sĩ:

  • Lê Thị Thu Thủy (2003), Nguyên tắc trách nhiệm trên cơ sở lỗi trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội.
  • Nguyễn Xuân Sơn (1999), Chế định lỗi trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật.

3. Các bài viết trên tạp chí chuyên ngành:

  • GS. TSKH. Lê Văn Cảm: "Chế định các nguyên tắc của Luật hình sự Việt Nam" (Tạp chí Luật học, số 3/2000); "Hoàn thiện chế định lỗi trong PLHS Việt Nam hiện hành - một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (Tạp chí TAND, số 12/1998 và 01/1999).
  • GS. TS. Nguyễn Ngọc Hòa: "Lỗi và xác định lỗi ở các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe" (Tạp chí Luật học, số 4/1994); "Đánh giá mức độ lỗi ở các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe" (Tạp chí Luật học, số 6/1996).
  • GS. TSKH. Đào Trí Úc (1999): "Nhận thức đúng đắn hơn nữa các nguyên tắc về trách nhiệm cá nhân và lỗi trong việc xử lý TNHS", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (số 9/1999).
  • TS. Trần Quang Tiệp (1999): "Một số vấn đề về lỗi trong luật hình sự", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (số 11/1999).
  • Các tác giả khác: Nguyễn Văn Hương (2002) về lỗi cố ý gián tiếp và cấu thành hình thức; Vũ Ngọc Tiếu (1994) về lỗi cố ý gián tiếp trong quan hệ nhân quả; Đào Bảo Ngọc (2003) về lỗi vô ý; Phạm Bá Thát (2001) về xác định lỗi của người say rượu; Nguyễn Duy Giảng (2007) về lỗi cố ý gián tiếp.

4. Điểm luận các nghiên cứu tiêu biểu và khoảng trống khoa học:

  • Bài viết của TS. Trần Quang Tiệp phân tích bản chất lỗi theo luật hình sự một số nước (Bungari, Rumani, Liên bang Nga, CHDC Đức). Tác giả đưa ra định nghĩa lỗi gắn với sự lựa chọn hành vi, phân tích khái niệm lỗi cố ý và vô ý.
  • Bài viết của GS. TSKH. Đào Trí Úc khẳng định lỗi là cơ sở của trách nhiệm hình sự, là dấu hiệu bắt buộc của mọi cấu thành tội phạm, biểu thị mối quan hệ biện chứng giữa tính quyết định khách quan và ý chí chủ quan.
  • Bài viết của GS. TS. Nguyễn Ngọc Hòa phân tích điều kiện của lỗi, phân biệt cố ý và vô ý, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải đánh giá mức độ lỗi khi quyết định hình phạt (bổ sung Điều 45 BLHS).
  • Luận án cũng đối thoại với quan điểm của một số học giả, chẳng hạn phản biện lại ý kiến cho rằng hành vi quy định tại khoản 4 Điều 202 BLHS (vi phạm an toàn giao thông có khả năng dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng) "chưa là lỗi hình sự"; luận án khẳng định đây là tội phạm được thực hiện với lỗi vô ý.
  • Về tài liệu nước ngoài, luận án tiếp cận gián tiếp qua các công trình trong nước các quan điểm lý thuyết của Beling, G. Êsec (Đức), T. Riler (Áo), Nôvakôvxki, Pufenđorf, Tr. Beccaria (Italia), I. Kant, G.W.F. Hegel, A. Feuerbach.

Khoảng trống được luận án giải quyết: Tổng hợp, hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về lỗi và nguyên tắc trách nhiệm do lỗi, phân tích sự thể hiện của nguyên tắc trong toàn bộ cấu trúc BLHS năm 1999 và khảo sát thực tiễn xét xử để đề xuất phương hướng hoàn thiện lập pháp hình sự.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp quyền, cùng các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp.

Khung lý thuyết phân tích bản chất của lỗi được xây dựng dựa trên:

  1. Mối quan hệ biện chứng giữa lỗi, tự do và trách nhiệm: Con người chịu sự chi phối của quy luật khách quan nhưng có năng lực tự do ý chí (khả năng nhận thức quy luật và quyết định xử sự). Khi cá nhân có đầy đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn hành vi phù hợp với đòi hỏi của xã hội nhưng lại tự do lựa chọn xử sự trái pháp luật thì họ có lỗi và phải chịu trách nhiệm hình sự.
  2. Lý thuyết về sự thống nhất giữa phủ định khách quan và phủ định chủ quan: Tội phạm là thể thống nhất giữa hành vi gây hại thực tế trên thực tế khách quan (phủ định khách quan) và thái độ tâm lý chống đối hoặc coi thường đòi hỏi của xã hội trong ý thức chủ quan của người thực hiện (phủ định chủ quan).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý định tính:

  • Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật: Là phương pháp chủ đạo, dùng để mổ xẻ nội dung các điều luật của BLHS năm 1999 và các văn bản liên quan.
  • Phương pháp hệ thống: Đánh giá nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong mối liên hệ với hệ thống các nguyên tắc khác của Luật hình sự và toàn bộ các chế định của BLHS.
  • Phương pháp lịch sử: Khái quát sự hình thành và phát triển của nguyên tắc qua các giai đoạn lập pháp (phong kiến, sau năm 1945, sau năm 1985).
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định về lỗi trong Luật hình sự Việt Nam với luật hình sự của Liên bang Nga, CHDC Đức, Bungari, Rumani, Trung Quốc.
  • Phương pháp khảo sát thực tiễn và tổng hợp án lệ: Khảo sát thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp nhằm phát hiện các vướng mắc, sai lệch trong áp dụng quy định về lỗi.
  • Phương pháp chuyên gia: Tiếp thu và tham khảo ý kiến của các nhà khoa học, chuyên gia thực tiễn thuộc TANDTC, Viện kiểm sát và các cơ sở đào tạo luật.

Nguồn tư liệu

  • Văn bản quy phạm pháp luật: BLHS năm 1985, BLHS năm 1999, các văn bản quy phạm thời kỳ phong kiến (Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long), các Sắc lệnh, Chỉ thị sau năm 1945.
  • Luật hình sự nước ngoài: Điều 5 BLHS CHDC Đức; Điều 9 BLHS Bungari; Điều 19 BLHS Rumani; Điều 3 BLHS Liên bang Nga; Điều 14, Điều 15 BLHS Trung Quốc.
  • Tài liệu thực tiễn: Các báo cáo tổng kết xét xử, bản án hình sự của hệ thống Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự Việt Nam

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về lỗi và nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong Luật hình sự Việt Nam:

1. Bản chất và định nghĩa lỗi hình sự:

  • Bản chất của lỗi được phân tích từ mối quan hệ giữa tự do ý chí và trách nhiệm. Tự do ý chí là điều kiện tiên quyết để quy kết trách nhiệm hình sự. Lỗi là sự lựa chọn xử sự nguy hiểm cho xã hội khi chủ thể có đủ khả năng và điều kiện để xử sự hợp pháp.
  • Định nghĩa lỗi hình sự do luận án đề xuất: Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình thực hiện và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra thể hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Người phạm tội đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có đủ điều kiện để lựa chọn, thực hiện hành vi khác không gây nguy hiểm cho xã hội.
  • Định nghĩa người có lỗi hình sự: Một người bị coi là có lỗi khi người đó có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ trong khi có đủ điều kiện để lựa chọn, thực hiện hành vi khác không gây nguy hiểm cho xã hội.

2. Các điều kiện của lỗi hình sự (gồm 4 điều kiện cốt lõi):

  • Điều kiện về chủ thể: Phải có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (không thuộc tình trạng mất năng lực quy định tại Điều 13 BLHS).
  • Điều kiện khách quan: Phải tồn tại hoàn cảnh khách quan cho phép chủ thể có khả năng lựa chọn xử sự hợp pháp (loại trừ trường hợp sự kiện bất ngờ hoặc tình trạng bất khả kháng).
  • Điều kiện về phương án xử sự: Trong thực tế khách quan phải có ít nhất một cách xử sự phù hợp với yêu cầu của xã hội mà chủ thể có thể nhận thức và lựa chọn thực hiện.
  • Điều kiện quy phạm: Hành vi được lựa chọn thực hiện phải bị Luật hình sự cấm (không thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết...).

3. Các hình thức và dạng của lỗi hình sự: Luận án phân tích cấu trúc lý trí và ý chí của 4 hình thức lỗi theo BLHS Việt Nam:

  • Lỗi cố ý trực tiếp (khoản 1 Điều 9 BLHS): Về lý trí, nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và thấy trước hậu quả; về ý chí, mong muốn hậu quả xảy ra.
  • Lỗi cố ý gián tiếp (khoản 2 Điều 9 BLHS): Về lý trí, nhận thức rõ tính nguy hiểm, thấy trước khả năng hậu quả có thể xảy ra; về ý chí, không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
  • Lỗi vô ý vì quá tự tin (khoản 1 Điều 10 BLHS): Về lý trí, thấy trước hành vi có thể gây hậu quả nguy hại; về ý chí, không mong muốn hậu quả, tự tin cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.
  • Lỗi vô ý do cẩu thả (khoản 2 Điều 10 BLHS): Về lý trí, không thấy trước hậu quả nguy hại; tuy nhiên căn cứ vào điều kiện chủ quan và khách quan thì người đó "phải thấy trước và có thể thấy trước" hậu quả đó.
Hình thức lỗi Yếu tố lý trí (Nhận thức hành vi & hậu quả) Yếu tố ý chí (Thái độ đối với hậu quả)
Cố ý trực tiếp Nhận thức rõ tính nguy hiểm; thấy trước hậu quả. Mong muốn hậu quả xảy ra.
Cố ý gián tiếp Nhận thức rõ tính nguy hiểm; thấy trước khả năng hậu quả có thể xảy ra. Không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Vô ý vì quá tự tin Thấy trước hành vi có thể gây ra hậu quả nguy hại. Không mong muốn; cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc ngăn ngừa được.
Vô ý do cẩu thả Không thấy trước hành vi có thể gây ra hậu quả nguy hại. Bắt buộc phải thấy trước và có đủ điều kiện để có thể thấy trước.

Các dạng phân loại khác của lỗi cố ý:

  • Căn cứ vào thời điểm hình thành ý định: Cố ý có dự mưu (có sự suy nghĩ, cân nhắc từ trước) và Cố ý đột xuất (vừa nảy sinh ý định đã thực hiện ngay).
  • Căn cứ vào mức độ xác định hậu quả: Cố ý xác định (xác định cụ thể đối tượng, mức độ thiệt hại) và Cố ý không xác định (chưa xác định cụ thể mức độ thiệt hại khi thực hiện hành vi).

4. Mối quan hệ giữa nguyên tắc trách nhiệm do lỗi với các nguyên tắc khác của Luật hình sự:

  • Với nguyên tắc pháp chế XHCN: Pháp chế đòi hỏi việc xác định tội phạm và hình phạt phải dựa trên cơ sở lỗi đã được luật định, ngăn ngừa việc quy tội khách quan.
  • Với nguyên tắc nhân đạo XHCN: Không trừng phạt người không có lỗi; phân hóa trách nhiệm hình sự theo mức độ lỗi (lỗi vô ý được xử lý nhẹ hơn lỗi cố ý).
  • Với nguyên tắc công bằng XHCN: Cá nhân hóa hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ lỗi của người phạm tội.

5. Lịch sử thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi:

  • Thời kỳ phong kiến: Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) và Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ) đã bước đầu phân biệt hành vi "cố sát" (cố ý) và "quá thất sát" (vô ý), quy định chuộc tội bằng tiền đối với trường hợp vô ý lầm lỡ.
  • Thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám 1945: Các Sắc lệnh số 16/SL, 223/SL... thể hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự dựa trên ý thức chủ quan và mức độ nguy hiểm của hành vi.
  • Thời kỳ sau năm 1985: BLHS năm 1985 lần đầu tiên pháp điển hóa chính thức các hình thức lỗi tại các Điều 8, Điều 9, làm cơ sở cho sự hoàn thiện tại BLHS năm 1999.

Chương 2: Sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

Chương 2 phân tích chi tiết sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong hệ thống các quy phạm thực định:

1. Thể hiện trong các quy định của Phần chung BLHS năm 1999:

  • Khái niệm và đặc điểm tội phạm (Điều 8): Quy định trực tiếp yếu tố "được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý", khẳng định tính có lỗi là dấu hiệu pháp lý bắt buộc của tội phạm.
  • Phân loại tội phạm (Điều 8): Mức độ lỗi là một trong những tiêu chí cơ bản để phân loại thành tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.
  • Cơ sở và điều kiện của trách nhiệm hình sự: Người không có lỗi (do mắc bệnh tâm thần làm mất khả năng nhận thức/điều khiển hành vi quy định tại Điều 13, hoặc do sự kiện bất ngờ quy định tại Điều 11) thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
  • Các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi: Phòng vệ chính đáng (Điều 15), tình thế cấp thiết (Điều 16) loại trừ trách nhiệm hình sự do hành vi không chứa đựng lỗi chủ quan nguy hiểm cho xã hội.
  • Quy định trách nhiệm hình sự đối với người say rượu hoặc dùng chất kích thích khác (Điều 14): Người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự vì họ có lỗi từ trước khi tự đặt mình vào trạng thái say (lỗi tiền hành vi).
  • Giai đoạn thực hiện tội phạm và đồng phạm: Chuẩn bị phạm tội (Điều 17) và phạm tội chưa đạt (Điều 18) chỉ áp dụng đối với tội phạm thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Chế định đồng phạm (Điều 20) đòi hỏi phải có sự "cố ý cùng thực hiện một tội phạm".
  • Quyết định hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Đánh giá tính chất và mức độ lỗi là căn cứ bắt buộc khi lượng hình; tái phạm và tái phạm nguy hiểm (Điều 49) chỉ áp dụng đối với tội do cố ý.

2. Thể hiện trong các quy định của Phần các tội phạm BLHS năm 1999:

  • Vị trí của lỗi trong cấu thành tội phạm: Lỗi là yếu tố trung tâm của mặt chủ quan.
  • Kỹ thuật lập pháp trong xây dựng cấu thành tội phạm:
    • Tội phạm có cấu thành vật chất: Người phạm tội phải có lỗi đối với cả hành vi lẫn hậu quả xảy ra.
    • Tội phạm có cấu thành hình thức: Chỉ đòi hỏi dấu hiệu lỗi cố ý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không bắt buộc phải có hậu quả xảy ra trên thực tế.
    • Trường hợp ngoại lệ của lỗi vô ý với cấu thành hình thức: Khoản 1 Điều 264 (vô ý làm lộ bí mật Nhà nước) và khoản 1 Điều 328 (vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự).

Chương 3: Thực tiễn xét xử và việc hoàn thiện Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 nhằm bảo đảm nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của LHS

Chương 3 tập trung vào đánh giá thực tiễn áp dụng và đưa ra phương hướng lập pháp:

1. Thực tiễn xét xử và những bất cập nảy sinh:

  • Hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đôi khi có sự nhầm lẫn giữa lỗi cố ý gián tiếp với lỗi vô ý vì quá tự tin (đặc biệt trong các vụ án sử dụng điện trái phép để chống trộm hoặc bảo vệ tài sản dẫn đến chết người).
  • Tình trạng đánh giá mức độ lỗi chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi khi áp dụng hình phạt, dẫn đến việc lượng hình quá nặng hoặc quá nhẹ.
  • Khó khăn trong việc xác định lỗi đối với các tội phạm xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ (khoản 4 Điều 202 BLHS).

2. Hạn chế của BLHS năm 1999:

  • Thiếu các quy phạm định nghĩa tường minh về khái niệm lỗi, khái niệm người có lỗi, khái niệm hỗn hợp lỗi trong Phần chung.
  • Chưa quy định hình thức lỗi như một dấu hiệu bắt buộc trong một số cấu thành tội phạm tăng nặng.
  • Điều 45 BLHS (căn cứ quyết định hình phạt) chưa quy định rõ ràng nghĩa vụ của Hội đồng xét xử phải xem xét "tính chất và mức độ lỗi" của người phạm tội khi quyết định hình phạt.

3. Quan điểm và đề xuất hoàn thiện:

  • Bổ sung vào Phần chung BLHS các quy định định nghĩa khái niệm lỗi hình sự, người có lỗi và nguyên tắc lỗi vô ý (chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi vô ý khi điều luật có quy định cụ thể).
  • Sửa đổi Điều 45 BLHS theo hướng bổ sung căn cứ "tính chất và mức độ lỗi" vào các tiêu chí định lượng hình phạt.
  • Hoàn thiện kỹ thuật mô tả mặt chủ quan trong các cấu thành tội phạm tại Phần các tội phạm để tránh áp dụng tùy nghi.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 5 điểm mới chủ yếu về mặt khoa học pháp lý:

  1. Là công trình chuyên khảo cấp luận án tiến sĩ đầu tiên trong khoa học luật hình sự Việt Nam kể từ sau khi pháp điển hóa năm 1985 nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi.
  2. Xây dựng hệ thống các khái niệm lý luận mới:
    • Đưa ra định nghĩa khoa học về lỗi hình sự.
    • Đưa ra định nghĩa khoa học về người có lỗi hình sự.
    • Luận giải khái niệm và nội dung của nguyên tắc lỗi vô ý trong Luật hình sự.
  3. Làm rõ sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong toàn bộ hệ thống quy phạm của Phần chung và Phần các tội phạm trong BLHS năm 1999, chỉ ra những điểm còn chưa tương thích về mặt lập pháp.
  4. Đánh giá thực trạng điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự liên quan đến việc xác định lỗi, phân tích nguyên nhân của các sai sót trong thực tiễn định tội và quyết định hình phạt.
  5. Đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện BLHS năm 1999 (bổ sung khái niệm lập pháp về lỗi, sửa đổi Điều 45 BLHS về căn cứ lượng hình, hoàn thiện các cấu thành tội phạm cụ thể).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do điều kiện khách quan, tác giả chưa tiếp cận trực tiếp toàn bộ các tài liệu gốc bằng tiếng nước ngoài của các học giả phương Tây (Beling, G. Êsec, T. Riler, Kant, Hegel...) mà phải nghiên cứu gián tiếp thông qua các tài liệu trích dẫn, dịch thuật của các nhà khoa học uy tín trong nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu mở rộng nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong mối tương quan với trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại (khi pháp luật hình sự có sự sửa đổi, bổ sung) và khảo sát thực tiễn áp dụng nguyên tắc lỗi trong các dạng tội phạm phi truyền thống.

Giá trị tham khảo

Công trình có giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp: Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự; hỗ trợ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên chuẩn hóa quy trình đánh giá lỗi khi định tội danh và quyết định hình phạt.
  • Cán bộ nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu sinh luật học: Là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu lý luận tội phạm học, luật hình sự phần chung và phần các tội phạm.
  • Học viên, sinh viên luật: Cung cấp hệ thống lý thuyết chuẩn mực về phân biệt các hình thức lỗi (cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp, vô ý vì quá tự tin, vô ý do cẩu thả).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa như thế nào về lỗi hình sự? Luận án định nghĩa: Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình thực hiện và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra thể hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Người phạm tội đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có đủ điều kiện để lựa chọn, thực hiện hành vi khác không gây nguy hiểm cho xã hội.

2. Theo luận án, một người bị coi là có lỗi hình sự khi thỏa mãn các điều kiện cơ bản nào? Một người bị coi là có lỗi khi: (1) Có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định; (2) Có hoàn cảnh khách quan cho phép lựa chọn hành vi hợp pháp; (3) Tồn tại phương án xử sự không gây nguy hại cho xã hội nhưng người đó tự do lựa chọn phương án trái pháp luật; (4) Hành vi lựa chọn bị pháp luật hình sự cấm.

3. Điểm khác nhau căn bản giữa lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý vì quá tự tin là gì?

  • Về lý trí: Trong cố ý gián tiếp, người phạm tội thấy trước hậu quả có thể xảy ra; trong vô ý vì quá tự tin, người phạm tội cũng thấy trước khả năng hậu quả nhưng tin rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc ngăn ngừa được.
  • Về ý chí: Trong cố ý gián tiếp, người phạm tội tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra; trong vô ý vì quá tự tin, người phạm tội hoàn toàn không mong muốn hậu quả xảy ra và tin tưởng dựa trên các căn cứ chủ quan, khách quan thiếu chắc chắn rằng hậu quả sẽ được ngăn chặn.

4. Luận án chỉ ra những tội danh nào có cấu thành hình thức nhưng được thực hiện do lỗi vô ý trong BLHS năm 1999? Luận án chỉ rõ hai trường hợp cá biệt thuộc Phần các tội phạm là: Tội vô ý làm lộ bí mật Nhà nước (khoản 1 Điều 264) và Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự (khoản 1 Điều 328).

5. Luận án đề xuất sửa đổi nội dung cụ thể nào tại Điều 45 BLHS năm 1999 về quyết định hình phạt? Luận án đề xuất bổ sung căn cứ "tính chất và mức độ lỗi" vào Điều 45 BLHS nhằm buộc Tòa án phải đánh giá chính xác mức độ lỗi của người phạm tội như một căn cứ bắt buộc khi lượng hình.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự" của tác giả Lê Văn Luật là công trình nghiên cứu chuyên khảo có tính hệ thống về chế định lỗi và nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong khoa học luật hình sự Việt Nam. Tác giả đã luận giải bản chất của lỗi trên nền tảng triết học Mác - Lênin về tự do ý chí và trách nhiệm, xây dựng các định nghĩa khoa học về lỗi hình sự, người có lỗi và nguyên tắc lỗi vô ý. Đồng thời, luận án đã phân tích toàn diện sự thể hiện của nguyên tắc này trong BLHS năm 1999, đánh giá thực tiễn xét xử và đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể nhằm bảo đảm nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong tiến trình cải cách tư pháp.