phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Một số vấn đề chung về án tích và xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 2: Các quy phạm về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam Chƣơng 3: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án, những vướng mắc và một số kiến nghị 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÓA ÁN TÍCH ĐỐI VỚI NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI BỊ KẾT ÁN 1. Khái niệm, nội hàm của án tích và xóa án tích 1. Án tích Năm 1985, BLHS đầu tiên của nước ta ra đời trên cơ sở của nền kinh tế bao cấp và thực tiễn của tình hình tội phạm thời kỳ đó. BLHS năm 1985 với ý nghĩa là nguồn duy nhất trong đó quy định tội phạm và hình phạt.
Vấn đề xóa án tích cũng chính thức được quy định trong văn bản pháp lý này, với tên gọi “xóa án”, “can án”, bản chất tương tự như vấn đề án tích, xóa án tích mà luận văn đang nghiên cứu. Tiếp theo đó ở các lần pháp điển hóa sau (BLHS năm 1999, BLHS năm 2015), xóa án tích cũng được kế thừa và có nhiều sự thay đổi. Để hiểu về xóa án tích, trước tiên phải nghiên cứu từ khái niệm, đặc điểm của chế định án tích. Tuy nhiên chưa có một văn bản pháp lý nào quy định cụ thể về án tích.
Do đó, khái niệm án tích và nội hàm của nó chưa được hiểu một cách thống nhất. Theo từ điển luật học, án tích là “đặc điểm xấu (hậu quả) về nhân thân của người đã bị kết án và áp dụng hình phạt được ghi và lưu lại trong lí lịch tư pháp trong thời gian luật định” [38, tr. Khi người phạm tội bị kết án về tội danh nào đó trong BLHS và bị Tòa án áp dụng hình phạt, sau khi người đó chấp hành xong hình phạt thì có thể được xóa án tích nếu đủ các điều kiện mà BLHS quy định. Trước khi được xóa án tích mà người bị kết án phạm tội mới có thể bị xác định là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam và trên thế giới hiện nay có một số bài viết có đề cập về vấn đề này như sau: PGS.TS Phạm Hồng Hải, “Án tích là hậu quả pháp lý của bản án kết 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tội mà Tòa án tuyên đối với người phạm tội” [15, tr. Quan điểm này đã chỉ ra được án tích là hậu quả pháp lý bất lợi chỉ áp dụng cho người phạm tội thông qua bản án kết tội của Tòa án. Điểm bất lợi đó thể hiện ở chỗ nó sẽ được coi là một điều kiện để đánh giá mức độ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đó là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. Quan điểm này còn nhiều chỗ chưa phù hợp là trong thực tế không phải mỗi bản án kết tội của Tòa án đều làm phát sinh án tích, ví dụ như trường hợp người bị kết án là người từ đủ 18 tuổi trở lên bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng; người được miễn hình phạt; người bị kết án là người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; người bị áp dụng biện pháp tư pháp.không làm phát sinh án tích.
Nguyễn Thị Lan lại cho rằng: “Án tích là một dấu ấn, cho thấy người có án tích đã từng bị kết án vì đã phạm tội” [20, tr. Quan điểm này đã chỉ ra được rằng chỉ có những người phạm tội mà đã bị Tòa án kết án, thì mới có án tích. Tuy nhiên, quan điểm này cũng có những điểm chưa thật sự hợp lý. Đó là việc dùng thuật ngữ "dấu ấn" để chỉ hậu quả pháp lý của người bị kết án phải gánh chịu là chưa phù hợp, thiếu chuẩn xác, nó chưa đánh giá đúng bản chất pháp lý của án tích cũng như tính nghiêm khắc của hình phạt.
Và mặt khác, cũng giống như quan điểm của PGS.TS Phạm Hồng Hải thì dùng thuật ngữ “người bị kết án” làm căn cứ là không chính xác, vì có nhiều trường hợp bị kết án nhưng không bị áp dụng hình phạt thì cũng không bị coi là có án tích. Nguyễn Tuyết Mai coi án tích là một trong những hậu quả pháp lý của việc bị kết án, gắn với người bị kết án [10, tr. Quan điểm này có nhiều nét tương đồng với quan điểm nêu trên, chưa phản ánh đúng bản chất 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của án tích. Cần được hiểu án tích là hậu quả pháp lý phát sinh đối với người bị kết án, nhưng người đó phải chịu hình phạt, khi chấp hành xong hình phạt đó và có đủ các điều kiện thì được xóa án tích.
Khi nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS năm 1985, thông qua các tài liệu như Bản kết luận điều tra; Bản cáo trạng và Bản án của Toà án, nhận thấy các văn bản này thường sử dụng cụm từ “tiền án” thay cho cách hiểu đó là bản án kết tội trước đó chưa được xoá án (án tích), việc sử dụng cụm từ “tiền án” thay cho việc xác định người đó chưa được xóa án tích như vậy chưa phản ánh đúng bản chất pháp lý của án tích trong pháp luật hình sự.TSKH Lê Cảm: Án tích là hậu quả pháp lý của việc người bị kết án bị áp dụng hình phạt theo bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án và là giai đoạn cuối cùng của việc thực hiện TNHS, được thể hiện trong việc người bị kết án mặc dù đã chấp hành xong bản án (bao gồm hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của Toà án) nhưng vẫn chưa hết án [4,tr. Nguyễn Quang Long cho rằng: Án tích là tình trạng pháp lý cụ thể của người bị kết án với loại hình phạt tương ứng, kèm theo một số hậu quả bất lợi cho người đó trong một thời hạn nhất định, bắt đầu từ khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật cho đến khi hết án tích hoặc xóa án tích [19, tr. Nguyễn Cao Cường có quan điểm: Án tích là sự kiện pháp lý hình sự phát sinh khi người phạm tội bị kết án, phải chịu hình phạt theo quyết định của bản án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án đó phải gánh chịu án tích trong khoảng thời gian nhất định kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật khi án tích đóđược xoá bỏ theo quy định của pháp luật [6, tr. Về cơ bản, ba quan điểm của GS.TSKH Lê Văn Cảm, NCS.
Nguyễn Quang Long và ThS. Nguyễn Cao Cường đều phản ánh đầy đủ bản chất của án tích. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khoa học luật hình sự Liên Xô cũ và Liên Bang Nga cũng có một số quan điểm về án tích như sau: Theo quy định của BLHS Liên Bang Nga 1986: Người bị kết án về một tội phạm bị coi là người có án kể từ ngày bản án kết tội có hiệu lực pháp luật cho đến khi được xóa án. Theo quy định của Bộ luật này, án tích được tính trong trường hợp tái phạm và khi quyết định hình phạt (Điều 87 BLHS Liên bang Nga năm 1996).TSKH luật Tkatrevxki Iu.M: “Án tích là hậu quả pháp lý của chủthể xuất hiện do sự kiện người này bị kết án một hình phạt nào đó về tội phạm đã thực hiện và kèm theo các hậu quả pháp lý nhất định đối với chính bản thân người này” [Trích theo 4, tr.TSKH luật Rarôg A.L cho rằng án tích là tình trạng pháp lý đặc biệt của người bị kết án một hình phạt đối với tội đã phạm và tình trạng này được bắt đầu từ khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật và tiếp diễn cho đến thời điểm hết hoặc xóa án tích [Trích theo 4, tr.
Như vậy, chỉ riêng khái niệm án tích, trong giới nghiên cứu khoa học luật nói chung đã tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau. Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu các quan điểm nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa khoa học về án tích như sau: Án tích là hậu quả pháp lý bất lợi và là đặc điểm xấu về nhân thân của người phạm tội bị kết án và áp dụng hình phạt theo bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, buộc người bị kết án đó phảigánh chịu án tích trong khoảng thời gian nhất định kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi hậu quả pháp lý đó được xóa bỏ theo quy định của pháp luật hình sự. Qua khái niệm trên có thể thấy nội hàm của án tích thể hiện như sau: Thứ nhất, án tích là hậu quả pháp lý bất lợi của người bị kết án. Hậu quả pháp lý được hiểu là kết cục tất yếu sẽ dẫn đến mà cá nhân, tổ chức phải gánh chịu trong trường hợp vi phạm pháp luật.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tòa án xét xử, bị kết tội và áp dụng hình phạt thì mặc dù chấp hành xong hình phạt nhưng người bị kết án vẫn phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi, đó là án tích và bị lưu lại trong lý lịch tư pháp. Người có án tích sẽ bị hạn chế về quyền lợi so với những người không có án tích. Lý luận và thực tiễn cho thấy không phải tất cả người phạm tội nào đã bị kết án đều phải chịu án tích. Theo quy định của BLHS 1985 và BLHS 1999 thì chỉ người nào bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật và phải chịu hình phạt thì mới phát sinh án tích.
Như vậy trường hợp người bị kết án nhưng được miễn hình phạt, bị áp dụng các biện pháp tư pháp như:giáodục tại trường giáo dưỡng theo quy định tại Điều 96 BLHS, biện pháp bắt buộc chữa bệnh theo quy định tại Điều 49 BLHS.thì sẽ không làm phát sinh sự kiện pháp lý về án tích.