Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN CÓ BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm của bị cáo là người chưa thành niên Thuật ngữ “hệ thống tư pháp người chưa thành niên” mới được nhắc đến nhiều ở Việt Nam trong những năm gần đây. Theo quan niệm thông dụng quốc tế thì thuật ngữ này được dùng với nghĩa chỉ tất cả các quá trình và thủ tục xử lý các hành vi vi phạm pháp luật (cả hành chính và hình sự) do những người dưới 18 tuổi thực hiện. Với ý nghĩa đó, khái niệm này bao trùm rất nhiều giai đoạn từ ngăn ngừa, giáo dục đến xử lý hành chính, xử lý hình sự và tái hoà nhập cộng đồng cho người vi phạm chưa thành niên, sau khi họ đã chấp hành đầy đủ hình phạt và các biện pháp giáo dục.
Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi người chưa thành niên [33], đặc biệt là những người dưới 16 tuổi, là những người chưa trưởng thành do họ còn non nớt về thể chất và trí tuệ. Do đó, họ cần được đối xử khác với cách đối xử dành cho người đã thành niên và cần được gia đình, xã hội và Nhà nước bảo vệ, chăm sóc đặc biệt. Quan điểm, chính sách cơ bản này đã được thể hiện trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như trong một số luật quan trọng ở cả hệ thống hành chính và hình sự. Bên cạnh các điều khoản quy định riêng trong Hiến pháp về người chưa thành niên, Nhà nước còn ban hành riêng một văn bản luật quy định một cách toàn diện về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Các văn bản luật quy định về các loại trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật đều có chương riêng hoặc một số điều khoản riêng quy định áp dụng đối với người chưa thành niên [43]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo quy định tại Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1990 [21, tr.12] trẻ em là người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn. Bên cạnh Công ước về quyền trẻ em thì Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) [3] do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14.1992 cũng nêu rõ người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi như là một sự kế thừa của Công ước về quyền trẻ em. Quy tắc Riyath về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên được Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14.20] mặc dù không đưa ra một cách cụ thể về khái niệm người chưa thành niên song thông qua các quy định cũng giúp chúng ta hiểu người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi.
Tuy nhiên, do sự phát triển của từng quốc gia khác nhau, nên khái niệm người chưa thành niên ở các quốc gia cũng khác nhau, bên cạnh việc đưa ra khái niệm này thì Công ước về Quyền trẻ em vẫn còn những điều khoản để ngỏ cho các nước quy định về độ tuổi cho người chưa thành niên, thậm chí ngay trong một quốc gia các văn bản pháp luật cũng quy định không thống nhất về vấn đề này. NCTN là khái niệm chung, bao trùm cho cả các quy định trong tố tụng hình sự. Được coi là bị can khi họ có quyết định khởi tố đối với một người đã thực hiện hành vi phạm tội. Quyết định khởi tố bị can là cơ sở pháp lý để áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết và tiến hành các biện pháp điều tra đối với người đó.
Khái niệm bị can được tồn tại suốt cả quá trình tiến hành tố tụng từ khi điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử. Như vậy người thực hiện hành vi phạm tội trong quá trình tố tụng này chưa đủ 18 tuổi là bị can NCTN kể từ thời điểm có quyết định đưa vụ án ra xét xử của Toà án đã thụ lý vụ án khi đó bị can chính thức trở thành bị cáo. Quyết định đưa vụ án ra xét xử là cơ sở pháp lý chứng minh đã đủ chứng cứ để đưa vụ án ra xét xử mà không phải trả hồ sơ để điều tra bổ xung, tạm đình chỉ hay đình chỉ vụ án. Như vậy người bị 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Viện kiểm sát truy tố và Toà án có quyết định đưa vụ án ra xét xử từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gọi là bị cáo là NCTN.
Như vậy: Người chưa thành niên phạm tội là người chưa tròn 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm. Tuy nhiên, không phải người chưa thành niên phạm tội nào cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc tìm hiểu đặc điểm bị cáo là người chưa thành niên là không thể thiếu đối với cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong xét xử vụ án hình sự có người chưa thành niên là bị cáo. NCTN là khái niệm chung, bao trùm cho cả các quy định trong tố tụng hình sự.
NCTN được coi là bị cáo kể từ thời điểm có quyết định đưa vụ án ra xét xử của Toà án đã thụ lý vụ án khi đó bị can chính thức trở thành bị cáo. Quyết định đưa vụ án ra xét xử là cơ sở pháp lý chứng minh đã đủ chứng cứ để đưa vụ án ra xét xử mà không phải trả hồ sơ để điều tra bổ xung, tạm đình chỉ hay đình chỉ vụ án. Như vậy người bị Viện kiểm sát truy tố và Toà án có quyết định đưa vụ án ra xét xử từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gọi là bị cáo NCTN. Điểm đặc thù của người chưa thành niên là sự hạn chế về nhận thức, do vậy việc xét xử họ chủ yếu nhằm giáo dục, qua đó giúp các em nhận thức được sai lầm và tuân thủ quy định của pháp luật.
Những nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 69 Bộ luật hình sự (BLHS) như sau: trong trường hợp điều tra, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về hành vi nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, điều kiện gây ra tội phạm. Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người đó phạm tội không nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình, cơ quan, tổ chức nhận giáo dục. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt với họ chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào đặc điểm nhân thân về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm. Khi xét xử nếu thấy không cần thiết áp dụng hình phạt thì tòa án có thể áp dụng một trong các biện pháp tư pháp thay thế là giáo dục tại xã phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng.
Đặc biệt, Bộ luật hình sự Việt Nam không quy định áp dụng hình phạt chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội. Khi xử phạt tù có thời hạn, tòa án cho bị cáo là người chưa thành niên phạm tội hưởng mức án tù nhẹ hơn mức án tù áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương đương; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không áp dụng hình phạt tiền và án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội chưa đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. Xuất phát từ những đặc điểm khác biệt về thể chất và tinh thần của NCTN so với người trưởng thành mà pháp luật có quy định chính sách hình sự riêng đối với NCTN phạm tội, đồng thời cũng quy định thủ tục tố tụng cần thiết đối với đối tượng này. Trước hết, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với NCTN phạm tội, nhất là biện pháp bắt tạm giữ, tạm giam phải cân nhắc, thận trọng.
Bộ luật TTHS cũng quy định Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán tiến hành tố tụng với người chưa thành niên phạm tội phải là người có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục, cũng như hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm của NCTN. Bởi những người tiến hành tố tụng am hiểu về những vấn đề, đặc điểm riêng, tính cách của NCTN thì mới có thể đánh giá, nhận xét được một cách xác đáng về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, động cơ mục đích phạm tội cũng như nhân thân của người phạm tội, từ đó có thể áp dụng biện pháp xử lý thích hợp. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi xét xử Sơ thẩm hay Phúc thẩm vụ án hình sự mà bị cáo là NCTN ngoài những vấn đề bắt buộc phải chứng minh theo quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) (có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, lỗi do cố ý hay vô ý, có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) hay không, mục đích động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra), thì theo quy định tại khoản 2 Điều 302 của BLTTHS Tòa án cần phải xác định rõ các vấn đề sau đây: Tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của NCTN.