CHƯƠNG 1 HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 1. Quy định của luật tố tụng hình sự về Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi 1. Quy định về thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi Trong tố tụng hình sự, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được coi là giai đoạn trọng tâm của quá trình tố tụng. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động do Tòa án thực hiện nhằm xem xét, đánh giá toàn diện các chứng cứ, tài liệu của vụ án hình sự trên cơ sở đó ra bản án, quyết định xác định có hành vi phạm tội hay không, người thực hiện hành vi phạm tội, hình phạt được áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội và giải quyết các vấn đề khác có liên quan trong vụ án hình sự.
Để xét xử sơ thẩm một vụ án hình sự thì cần có Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện hoạt động này. Hội đồng xét xử sơ thẩm theo từ điển luật học định nghĩa là “Hội đồng gồm các Thẩm phán và Hội thẩm do Tòa án có thẩm quyền lập ra để nhân danh Nhà nước trực tiếp xét xử tại phiên tòa các vụ án và ra bản án hoặc quyết định đối với các vụ án”1. Khi xét xử sơ thẩm, HĐXX có nhiệm vụ giải quyết toàn bộ vụ án. Mọi chứng cứ, tài liệu được thu thập ở giai đoạn điều tra hoặc điều tra bổ sung đều được xem xét, thẩm tra, đánh giá một cách khách quan và công khai tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng được trình bày ý kiến của mình và tranh luận bình đẳng tại phiên tòa theo đúng nguyên tắc của tố tụng hình sự. Chương XXVIII trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) (gọi tắt là BLTTHS năm 2015) có tên gọi là: “Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi” gồm 18 điều (từ Điều 423 đến Điều 430). Việc quy định thủ tục này thể hiện rõ chính sách hình sự nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta, cũng như yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, ngừa tội phạm liên quan đến người dưới 18 tuổi, phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi gồm có Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.
Hội đồng xét xử là một yếu tố quan trọng trong việc xét xử vụ án 1 Khổng Quang Trường (2017), Hội đồng xét xử sơ thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự, Luận văn thạc sĩ, Học viện khoa học xã hội Hà Nội, tr. 7 hình sự, nên BLTTHS 2015 đã quy định tương đối đầy đủ và cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của từng chủ thể tiến hành tố tụng. Theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân được Chánh án Tòa án nơi thụ lý vụ án phân công tham gia xét xử vụ án (điểm b khoản 1 Điều 44). Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định sau (khoản 1 Điều 277): (a) Đưa vụ án ra xét xử; (b) Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung; (c) Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án.
Trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải nêu rõ họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm phán dự khuyết và Hội thẩm dự khuyết nếu có. Như vậy, về mặt pháp lý thì Hội đồng xét xử sơ thẩm không cố định và không thường trực trong cơ cấu tổ chức của Tòa án mà là một Hội đồng được thành lập khi có sự phân công, quyết định của Chánh án và tự giải tán sau khi hết thẩm quyền giải quyết vụ án. Cụ thể, Điều 254 BLTTHS năm 2015 quy định về thành phần Hội đồng xét xử gồm: “1. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm.
Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm. Đối với vụ án có bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.” Thành phần Hội đồng xét xử được quy định như trên đã phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là: Việc xét xử của Tòa án có Hội thẩm tham gia; Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và tuân theo pháp luật; Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Ngoài những thành viên Hội đồng xét xử chính thức, còn có thể có Thẩm phán và Hội thẩm dự khuyết để thay thế Thẩm phán và Hội thẩm chính thức khi cần thiết. Việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi tham gia cần có những điều kiện đặc biệt hơn so với vụ án hình sự thông thường.
Đối với thành viên HĐXX, ngoài áp dụng quy định chung theo Điều 254 thì nhà làm luật còn đặt ra một số tiêu chuẩn chuyên biệt. Xuất phát từ những đặc thù về lứa tuổi của người dưới 18 tuổi và chính sách nhân đạo của Nhà nước, Điều 415 BLTTHS năm 2015 quy định người tiến hành tố tụng đối với vụ án có người dưới 18 tuổi phải là người đã được 8 đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi. Đây là một điều kiện bắt buộc. Quy định này được xem là phù hợp với chuẩn mực pháp lý quốc tế và pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, khi áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong việc xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm có người dưới 18 tuổi tham gia vẫn còn một số vướng mắc. Quy định về Thẩm phán xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi “Thẩm phán là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật này được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử. Theo khái niệm này thì có thể hiểu, Thẩm phán là một chức danh tư pháp, thực hiện việc xét xử và là công chức của Nhà nước. Trong Hội đồng xét xử, Thẩm phán là người có trình độ chuyên môn cao về việc hiểu biết và áp dụng pháp luật.
Thẩm phán đóng vai trò chính thực hiện nhiệm vụ, chức năng xét xử của Tòa án, là sự hiện diện của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng xét xử. Khi được phân công thụ lý, giải quyết, xét xử một vụ án hình sự sơ thẩm thì Thẩm phán đóng vai trò điều khiển cho các hoạt động của giai đoạn chuẩn bị xét xử và giai đoạn xét xử được diễn ra một cách trơn tru và đúng quy định pháp luật. Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo quy định tại Điều 45 BLTTHS năm 20153. Đối với vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi tham gia thì 2 Điều 65 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 3 Điều 45.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán 1. Thẩm phán được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn: a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa; b) Tiến hành xét xử vụ án; c) Tiến hành hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử; d) Tiến hành hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này và những nhiệm vụ, quyền hạn: a) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trừ biện pháp tạm giam; b) Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; c) Quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; d) Điều hành việc xét xử vụ án, tranh tụng tại phiên tòa; đ) Quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định; yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá tài sản; e) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội; yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật; g) Quyết định triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa; h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án theo quy định của Bộ luật này. Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình.
9 ngoài quy định tại Điều 45 BLTTHS, Thẩm phán còn phải có các điều kiện theo Điều 415 BLTTHS: “… phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi”. Theo quy định tại Điều 1 Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC của Tòa án nhân dân Tối cao, thẩm quyền xét xử vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi tham gia thuộc về Tòa gia đình và người chưa thành niên - là Tòa chuyên trách xét xử các vụ án hình sự đối với người chưa thành niên4. Tuy nhiên, đối với các Tòa án chưa có điều kiện tổ chức Tòa gia đình và người chưa thành niên như các Tòa án nhân dân cấp huyện thì việc xét xử sẽ do Thẩm phán có đủ điều kiện thực hiện, cụ thể: “Thẩm phán là người có kinh nghiệm xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi hoặc đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng giải quyết các vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi hoặc đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi”5. Bên cạnh đó, Điều 5 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC- TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH (gọi tắt là Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT)6 quy định rõ hơn về việc phân công người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.