phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục khóa luận gồm có 2 chương, 6 tiết. LÝ LUẬN CHUNG VE VAN HOA HỌC TAP VA XÂY DUNG VAN HOA HỌC TẬP TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Khái niệm văn hóa và văn hóa học tập trong trường đại học 1. Khái niệm văn hóa “Văn hóa” là một thuật ngữ trừu tượng và phức tạp mặc dù thời gian ton tai cling như phát triển của văn hóa là rất lâu.
Song đẻ hiệu hết về thuật ngữ nay cũng như dé có được một khái niệm đúng về văn hóa còn là một cầu hoi lớn chưa có lời giải dap. Với chiều dai lịch sử gắn liền với sự xuất hiện của loài người, văn hóa đã gắn chặt với nép sông, hành vi, suy nghĩ của con người. Mỗi một khu vực địa lý khác nhau, một cộng đồng. dân tộc khác nhau có những nên văn hóa khác nhau.
thậm chí ngay cả giữa các nhóm xa hội ở cùng một địa vực cũng có những nét văn hóa riêng đặc trưng cho văn hóa nhóm. Từ xưa tới nay, trong sự phát triển của xã hội, “van hóa" luôn chứng tỏ vai trò quan trọng của mình trong sự phát triển của mỗi quốc gia, điều này đã tạo thành một trào lưu nghiên cứu biến “văn hóa” trở thành một trong những đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội — nhân văn, trong đó phải ké đến Xã hội học. Mác - đây là một trong những bộ óc vĩ đại nhất của kỷ nguyên Victoria. Ông được coi là nhà lý luận phủ định vai trò của văn hóa (anticultural theorist).
Điều này rất rõ ràng khi chúng ta phân tích về nguồn gốc văn hóa của các nhà triết học, nhả tư tưởng trước Mác. Theo quan niệm của tôn giáo, văn hóa là do thượng dé truyền lại cho con người. Tôn giáo được xem là một yếu tố quan trọng trong việc hình thành và phát triển văn hóa. Theo quan niệm của triết học Hy Lạp cô đại, do lý trí vả tư duy của con người truyền lại cho nhau trở thành văn hóa, đó là dau an của tâm hồn là sản phẩm của trí tuệ.
Theo triết lý của Trung Quốc, văn hóa là từ thiên nhiên truyền lai, đó là sự kết hợp giữa con người và thiên nhiên, văn hóa được xem là một phần của tự nhiên. Dưới góc độ cúa triết lý La Mã cô đại, văn hóa được coi là do những giá trị và truyền thông của nên văn minh La Mã truyền lại cho con người; văn hóa là một phan cua lich str và là sản phẩm của những giá trị truyền thống. 12 Có thé thay rằng, trước Mác, các triết gia đã có nhiều quan niệm về nguồn gốc của văn hóa, nhưng đơn thuần tập trung vào các yếu tổ về trí tuệ, thiên nhiên, tôn giáo và lịch sử. Quan điểm của Mác — Lénin, về nguồn gốc văn hóa, mang tính mới hoàn toàn so với các quan điềm của các triết gia, nha tư tưởng đi trước.
Chủ nghĩa Mác — Lénin khang định lao động mới chính là nguồn gốc của văn hóa. Vì bởi lẽ, lao động là hoạt động ma con người sử dụng dé tạo ra giá trị và sản phầm đóng góp vào sự phát triển của xã hội, đồng nghĩa với việc lao động là nguồn gốc của nhu cầu vật chất và tỉnh than cúa con người. Vì vậy, văn hóa cũng là một sản phẩm của lao động. Chủ nghĩa Mác — Lênin cũng nhận ra rằng văn hóa không phải là yếu tô có định mà nó thay đổi theo thời gian và sự phát triển của xã hội.
Bản chat của văn hóa là sự sáng tạo và phát triên về các giá trị nhân văn. Chủ nghĩa Mác - Lénin cho rang, văn hóa không chỉ là sản phẩm của quá trình lao động, mà còn là kết quả của quá trình tư duy và sáng tạo của con người. Việc phát triển và tạo ra văn hóa sáng tạo không chỉ là dé thỏa mãn nhu cầu giải trí, mà còn dé khang định vai trò của con người trong xã hội, tạo ra những giá trị nhân văn và nâng cao chất lượng cuộc sống. Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng cho rằng.
văn hoá không phải là một thứ tĩnh vật. mà là một quá trình phát triển liên tục, chịu ảnh hưởng của các tác động xã hội và lịch sử. Việc phát triển văn hóa sáng tạo và đôi mới cũng đồng nghĩa với việc đổi mới và phát triển các giá trị nhân văn, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Nhìn chung, theo quan điểm của Mác - Lénin, văn hóa là sự sáng tạo và phát triển liên tục của con người, có mục đích tạo ra các giá trị nhân văn và đáp ứng nhu cau phát triển của xã hội.
Văn hóa không chỉ là san phẩm của quá trình lao động, mà còn là kết quả của quá trình tư duy va sang tạo của con người. Văn hóa ở đây được hiểu là sự phát triển tự thân, khách quan, tất yêu mang tính xã hội cao do nhu cầu tôn tại của chính con người. Nó là phương thức hoạt động không ngừng nâng cao chính bản thân con người theo sự phát triển của xã hội. Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), Chú tịch Hồ Chí Minh đã nhìn nhận văn hóa với nhiều cấp độ xoay quanh hai trục là: Dân tộc và Mácxít.
Trong thực tiễn nghiên cứu khoa hoc, có lẽ không có thuật ngữ nào lại đa nghĩa như văn hóa. Cho đến nay, văn hóa vẫn là 13 một khái niệm phức tạp và khó xác định. Người ta vẫn chưa thống nhất với nhau về một định nghĩa cuối cùng. Mỗi tác giá đều có cách tiếp cận riêng đối với khách thẻ văn hóa da dang, vì vậy đều có định nghĩa cho riêng mình.
Căn cứ vào số lượng déi đào của các định nghĩa, Mercier — nhà xã hội học người Pháp đã vi văn hóa như một tòa nhà đa diện mà mỗi học giả đều xuất phát từ cửa sô phòng riêng của minh đề nhận xét, định nghĩa vẻ nó. Tình hình đó đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới nhằm tiền tới những cách hiểu cơ bản nhất về hiện tượng văn hóa. Chủ tịch Hỗ Chí Minh cũng nhận định: “Vi lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sông, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật. khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dung.
Toàn bộ những sáng tao và phat minh đó tức là văn hóa"({3]. Với định nghĩa của Trần Ngọc Thêm: “Van hóa là hệ thống các giá trị vật chat và tỉnh thân đo con người sáng tạo nên, được tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, thông qua sự tương tác giữa con người với tự nhiên và xã hội của con người"|9} Năm 2002, Unesco đã đưa ra định nghĩa: “Van hóa là tông thé những nét riêng biệt tỉnh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghê thuật, văn chương, những lối suy nghĩ, quyền cơ ban của con người; là những hệ thong giá trị những tập tục và tín ngưỡng. Văn hóa là tổng thê các hệ thống gia tại văn hoa la sư phát triển" [13].
Hồ Chí Minh từng nói: “Van hóa soi đường cho quốc dan di”[3], thế mới thay vai trò to lớn của văn hóa, là những chuẩn mực dé con người ứng xử với nhau, là chiếc chìa khóa dé chúng ta tiếp xúc với xã hội, tiếp xúc với sự biểu biết, văn minh, lịch sự, là kim chỉ nam dẫn dắt giúp cuộc sông được tốt đẹp hơn. Tổng Bi thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nhắn mạnh: “Dd theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì khi đã nói đến văn hóa là nói đến những gì là tinh hoa, tỉnh túy nhất, được chưng cat, kết tinh, hun đúc thành những giá trị tốt đẹp, cao thượng, đặc sắc nhất, rất nhân văn, nhân ái, nhân nghĩa, nhân tình, tiến bộ”, “còn những gì xấu xa, việc làm ti tiện, đớn hèn, những hành động phi pháp, bi di,. là vô văn hóa, phi văn hóa, phản văn hóa” (Phát biêu tại Hội nghị văn hóa toàn quốc, Tổng Bi thư Nguyễn Phú Trọng). 14 Các quan điểm trên đã khắc họa được phan nao ngữ nghĩa về văn hóa.
Theo thời gian, khái niệm về văn hóa đã được điều chính, bỏ sung để phù hợp và chính xác hơn. Nói tóm lai, văn hóa là hệ thong các giá trị vật chất và tinh than do con người sáng tạo nên, được tích lũy trong hoạt động thực tiễn, thông qua sự tương tác giữa con người với tự nhiên và xã hội trong suốt tiền trình phát triển của lịch sử. Khái niệm văn hóa học tập *Học tập Việc học tập được là một hoạt động chủ đạo của con người, nhằm tiếp thu, lĩnh hội những tri thức, kinh nghiệm lịch sử mà loài người đã tích lũy qua nhiều thế hệ. Có khá nhiều quan điểm khi bàn luận về học tập được các nhà nghiên cứu đưa ra.
Intexon cho rằng học tập là hoạt động đặc biệt của con người có mục đích nam vững tri thức, kỹ nang — kỹ xảo và các hình thức nhất định của hành vi, nó bao gồm cả ý nghĩa nhận thức và thực tiển{ 14]. Với Cudomina, hoạt động học tập là hoạt động nhận thức cơ bản của người học được thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Trong quá trình đó, quan trọng nhất là việc nắm vững nội dung cơ ban của các thông tin học tập| 1Š]. Theo UNESCO, yếu tổ cốt lõi nhất của học tập là phát trién, có các loại hình học tập: hoc để biết là nắm lay công cụ để hiểu; học để làm là rèn luyện khả năng hoạt động sáng tao, tác động vào môi trường của mình; học dé chung song là tham gia và hợp tac với những người khác trong mọi hoạt động của con người: học để làm người là sự tiền triển quan trọng nay sinh từ ba loại hình học tập trên.
Theo Nho gia phương Đông, đã là người, làm người phải có các tô chất: nhân, trí, đũng, tín, cương, trực. Và học là dé có trí, học là dé có dũng, học là dé có tín, học là dé có cương, học là dé có trực[ 12]. Từ đó, học là dé cho con người biết tu dưỡng bản thân, biết lo liệu cho gia đình, biết làm cho đất nước được thịnh trị, biết làm cho thiên hạ. nhân loại, cộng đồng được thái bình.
Nho gia cũng đưa ra lời khuyên về cách học: học cho rộng, hỏi cho kỹ. nghĩ cho can thận, phân biệt cho rõ ràng, làm cho hết sức.