CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về văn hóa Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thời bắt đầu hình thành nên xã hội loài người. Có rất nhiều định nghĩa về văn hóa. Theo các nước Phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ “văn hóa” bao hàm ý nghĩa “văn” là vẻ đẹp nhân tính, nét đẹp của tri thức, trí tuệ con người có thể đạt được bằng sự tu dưỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầm quyền.
Còn chữ “hóa” là đem cái văn (cái tốt, cái đẹp, cái đúng đắn) để cảm hóa, giáo dục và thực hiện hóa trong thực tiễn, đời sống. Trong Chu Dịch, đã có từ văn và hóa tức xem dánh vẻ con người lấy đó mà giáo hóa thiên hạ. Theo các nước Phương Tây, văn hóa (Culture) có gốc từ chữ Latinh – Cultus animi: là khai hoang, trồng trọt thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên và họ có những phẩm chất tốt đẹp [4]. Trong phần cuối Nhật ký trong tù (1942 – 1943) Hồ Chí Minh đã viết: “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Chính văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng như vậy mới có thể là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Luan van 10 Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội.
Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội loài người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và xã hội biểu hiện trong các hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra. Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp Mỗi cộng đồng người đều có văn hóa riêng, và mỗi doanh nghiệp cũng vậy.
Doanh nghiệp tồn tại là để sản xuất ra của cải. Mọi hoạt động sản xuất đều gắn liền với một dây chuyền công nghệ nhất định. Để vận hành được các khâu của dây chuyền này thì doanh nghiệp phải có hệ thống tổ chức, quản lý chặt chẽ. Điều này có nghĩa là trong hoạt động của doanh nghiệp mọi người đều tuân theo những giá trị, chuẩn mực của doanh nghiệp.
Như vậy, mỗi doanh nghiệp chính là một không gian văn hóa. Có thể nhận thấy, “văn hóa” được rất nhiều nhà quản lý quan tâm nghiên cứu với mục đích đưa những kiến thức và hiểu biết về tác động và cách thức gây tác động đối với hành vi con người vào các biện pháp liên quan quản lý, liên quan đến con người ở cấp độ tổ chức, doanh nghiệp hay nhóm xã hội nhỏ hơn doanh nghiệp. Với góc nhìn này, văn hóa và ảnh hưởng của nó trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà quản lý. Vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX, sau sự thành công rực rỡ của các công ty Nhật Bản, các công ty Mỹ bắt đầu quan tâm đến văn hóa doanh nghiệp vốn được coi là một trong những tác nhân chủ yếu của các công ty Nhật Bản trên khắp thế giới.
Đầu thập kỳ 90, người ta bắt đầu đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về những nhân tố cầu thành cũng như những tác động to lớn của văn hóa đối với sự phát triển của một doanh nghiệp. Trong những năm gần Luan van 11 đây, khái niệm văn hóa doanh nghiệp ngày càng được sử dụng phổ biến, vấn đề văn hóa doanh nghiệp đã và đang được nhắc đến như một tiêu chí khi bàn về doanh nghiệp. Và khi phạm vi hoạt động của doanh nghiệp đã mở rộng ra ở một thị trường “đa văn hóa”, sức mạnh của nhân tố con người trong doanh nghiệp đã trở thành yếu tố quyết định sức mạnh của tổ chức, sự phát triển, tiến bộ của nhân lực con người cả trong doanh nghiệp và xã hội đã trở thành trọng tâm quản lý cần được ưu tiên hàng đầu. Xây dựng và phát triển đặc trưng văn hóa riêng của doanh nghiệp đã trở thành mục tiêu quản lý ở nhiều tổ chức, doanh nghiệp hiện nay[4].
Tương tự như “văn hóa”, có rất nhiều định nghĩa xung quanh khái niệm “văn hóa doanh nghiệp” và nhìn nhận nó bằng nhiều góc độ khác nhau. Vì vây, cho đến nay cũng có rất nhiều cách gọi tên như văn hóa doanh nghiệp, văn hóa công ty, văn hóa tổ chức, văn hóa kinh doanh… cũng như các cách định nghĩa về thuật ngữ này[4]. Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà hội nhập và phát triển đã tạo cơ hội đồng thời doanh nghiệp phải đối diện với nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh như sự thiếu hụt nguồn vốn, nhân lực. hay sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường.
Nhiều chuyên gia đã tiến hành phân tích sâu những vấn đề tồn tại trong một Công ty nói riêng và trong nền kinh tế xã hội nói chung. Và dĩ nhiên “văn hóa” vẫn là cái cốt lõi để nảy sinh mọi vấn đề. Thuật ngữ văn hóa được gắn với một số từ khác tạo nên thuật ngữ chuyên biệt và có ý nghĩa cụ thể trong từng lĩnh vực. Ví dụ như: văn hóa tổ chức; văn hóa kinh tế; văn hóa kinh doanh; văn hóa doanh nghiệp…[4] Văn hóa doanh nghiệp đã được các nước trên thế giới khám phá và vận dụng trong kinh doanh từ rất sớm.
Schein[13], chuyên gia nghiên cứu các tổ chức thì ‘‘Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong doanh nghiệp học được trong quá trình Luan van 12 giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh’’. Với quan điểm này, văn hóa doanh nghiệp vẫn chỉ là yếu tố còn tương đối mơ hồ và chưa thật sự có ý nghĩa với hoạt động kinh doanh. Văn hóa doanh nghiệp chỉ thể hiện ở những điều đơn thuần và nó được hình thành sau quá trình kinh doanh. Một cách tiếp cận khác: Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp.
Cũng có một số quan niệm về văn hóa doanh nghiệp khá đơn giản, ví như: nếu doanh nghiệp là máy tính thì văn hóa doanh nghiệp là hệ điều hành. Nói một cách hình tượng thì: Văn hóa là cái còn thiếu khi ta có tất cả, là cái còn lại khi tất cả đã mất. Nói một cách ngắn gọn, văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống ý niệm chung và đòi hỏi mỗi thành viên trong doanh nghiệp dù có khác nhau về nền tảng, về chức vụ quyền hạn đều phải có một hiểu biết và hành xử chung đúng theo những giá trị nền tảng sẵn có. Hiện nay, vấn đề văn hóa doanh nghiệp đang được các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp Việt Nam quan tâm, đặc biệt là các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, các nhà quản trị.
Đã có một số nghiên cứu, tài liệu, giáo trình… đề cập về văn hóa doanh nghiệp. Có thể nêu ra một số định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp của một số nhà nghiên cứu trong nước như sau: Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Dương Thị Liễu thì “Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ giá trị tinh thần mang đặc trưng riêng biệt của doanh nghiệp có tác động tới tình cảm, lý trí, và hành vi của tất cả các thành viên doanh nghiệp" [4]. Tác giả khẳng định việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp là nhằm xây dựng một phong cách quản trị hiệu quả, đưa mọi hoạt động của doanh nghiệp theo những chuẩn mực chung, xây dựng mối quan hệ giữa các thành viên trên tinh thần hợp tác, tin cậy, gắn bó, thân thiện. Tất cả vì sự tồn tại và Luan van 13 phát triển của doanh nghiệp".
Với góc nhìn của Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Quân thì “Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên”[2]. Qua hệ thống khái niệm nêu trên có thể thấy văn hóa doanh nghiệp nằm trong văn hóa kinh doanh của quốc gia, là sự thể hiện văn hóa kinh doanh ở cấp Công ty. Văn hóa doanh nghiệp được xem là hệ thống các giá trị tinh thần và các chuẩn mực do doanh nghiệp tạo nên và nó chi phối mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp chính là cái tạo nên cốt lõi của doanh nghiệp, là trụ cột tinh thần của doanh nghiệp, là linh hồn của cả doanh nghiệp, gắn kết mọi người lại với nhau trong mục tiêu chung và cung cách hành động chung.
Tuy rằng các khái niệm khác nhau về cách thể hiện nhưng nếu phân tích đi sâu tìm hiểu rõ ràng thì có thể nhận thấy nhiều điểm tương đồng về nội dung. Đó là sự kế thừa và phát triển những khái niệm của những nhà nghiên cứu đi sau. Trong phạm vi và mục đích nghiên cứu của đề tài này, theo tác giả đây là khái niệm về văn hóa doanh nghiệp phù hợp nhất: “Văn hóa doanh nghiệp là hệ thống giá trị bao gồm: truyền thống, tập quán, lối ứng xử, nghi lễ, biểu tượng chuẩn mực được hình thành trong quá trình xây dựng và phát triển của doanh nghiệp, tạo nên bản sắc riêng và có tác động sâu sắc đến tâm lý, tư tưởng, niềm tin và hành vi của tất cả các thành viên trong doanh nghiệp”. Các cấp độ thể hiện của văn hóa doanh nghiệp Cấu trúc của văn hóa doanh nghiệp qua quan sát của các chuyên gia nghiên cứu khác nhau thì được mô tả thành những bộ phận cấu thành khác nhau.