Chương 1: Cơ sở lý luận về Văn hóa doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng văn hóa doanh nghiệp của VNPT Thanh Hóa Chương 3: Giải pháp phát triển văn hóa doanh nghiệp của VNPT Thanh Hóa 4 CHƯ NG 1. C SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Văn hóa là một khái niệm có ngoại diên rất rộng lớn bao gồm nhiều loại đối tượng, tính chất và hình thức biểu hiện khác nhau. Bởi vậy, cho đến nay, có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa. Việc cùng tồn tại nhiều khái niệm văn hóa khác nhau càng làm vấn đề được hiểu biết một cách phong phú và toàn diện hơn.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa là sự tổng h p của m i ph ơng thức sinh hoạt cùng với biểu hi n của nó mà loài ng ời đã s n sinh ra nhằm th ch ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” - trích dẫn theo PGS.TS Dương Thị Liễu [5]. Năm 2002, UNESCO phát triển định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa nên đ c đ cập đến nh là một tập h p của những đặc tr ng v t m hồn, vật chất, tri thức và x c c m của một xã hội hay một nhóm ng ời trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn h c ngh thuật, c c ch sống, ph ơng thức chung sống, h thống gi tr , truy n thống và đức tin” [trích dẫn theo 5]. Herriot: “Văn hóa là c i còn lại sau khi ng ời ta quên đi tất c , là c i v n còn thiếu sau khi ng ời ta đã h c tất c ” [trích dẫn theo 5].TS Đỗ Minh Cương: “Văn hóa là nguồn lực nội sinh của con ng ời, là kiểu sống và b ng gi tr của c c tổ chức, cộng đồng ng ời, trung t m là c c gi tr ch n - thi n - mỹ”[3,tr.TS Bùi Xuân Phong: “Văn hóa là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần mà loài ng ời đã s ng tạo ra trong l ch sử của mình trong quan h với con ng ời, với tự nhiên và với xã hội, đ c đ c kết lại thành h gi tr và chuẩn mực xã hội. Nói tới văn hóa là nói tới con ng ời, 5 nói tới vi c ph t huy những năng lực b n chất của con ng ời, nhằm hoàn thi n con ng ời, hoàn thi n xã hội.
Có thể nói văn hóa là tất c những gì gắn li n với con ng ời, ý thức con ng ời để rồi lại trở v với ch nh nó” [1]. Nói một cách khái quát thì văn hóa là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra trong lịch sử của mình trong quan hệ với con người, với tự nhiên và xã hội, được đúc kết lại thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội. Nói tới văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực bản chất của con người, nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội. Có thể nói văn hóa là tất cả những gì gắn liền với con người, ý thức con người để rồi lại trở về với chính nó.
Xã hội rộng lớn có một nền văn hóa lớn mà doanh nghiệp là một bộ phận của xã hội. Do đó trong mỗi doanh nghiệp sẽ tồn tại những hệ thống hay chuẩn mực về giá trị đặc trưng, hình tượng, phong cách được doanh nghiệp tôn trọng và truyền từ thành viên này sang thành viên khác, từ lớp cũ đến lớp mới, trở thành những giá trị, những quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích. Khái niệm được sử dụng để phản ánh những hệ thống này được gọi với nhiều tên khác nhau như văn hóa doanh nghiệp, văn hóa công ty, văn hóa tập đoàn, hay văn hóa tổ chức. Mỗi doanh nghiệp có một bản sắc văn hóa doanh nghiệp của riêng mình.
Tương tự văn hóa, có rất nhiều quan điểm khác nhau bàn về văn hóa doanh nghiệp. Tất cả các quan điểm đó sẽ giúp ta hiểu về văn hóa doanh nghiệp một cách toàn diện và đầy đủ hơn. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Văn hóa doanh nghi p là sự trộn l n đặc bi t c c gi tr , c c tiêu chuẩn, thói quen và truy n thống, những th i độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ ch ng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”. 6 Một định nghĩa phổ biến và được chấp nhận rộng rãi do chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein (2010) đưa ra: “Văn hóa doanh nghi p là tổng h p c c quan ni m chung mà c c thành viên trong công ty h c đ c trong qu trình gi i quyết c c vấn đ nội bộ và xử lý c c vấn đ với môi tr ờng xung quanh” [12].TS Nguyễn Mạnh Quân: “Văn hóa doanh nghi p đ c đ nh nghĩa là một h thống c c ý nghĩa, gi tr , ni m tin chủ đạo, nhận thức và ph ơng ph p t duy đ c m i thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có nh h ởng ở phạm vi rộng đến c ch thức hành động của c c thành viên” [9].TS Dương Thị Liễu: “Văn hóa doanh nghi p là một h thống c c gi tr , c c chuẩn mực, c c quan ni m và hành vi của doanh nghi p, chi phối hoạt động của m i thành viên trong doanh nghi p và tạo nên b n sắc kinh doanh riêng của doanh nghi p” [5].TS Đỗ Minh Cương: “Văn ho kinh doanh là vi c sử dụng c c nh n tố văn ho vào trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là văn ho mà c c chủ thể tạo ra trong qu trình kinh doanh, hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn đ nh và đặc thù của nó” [3].
Lê Đăng Doanh: "Văn hóa doanh nghi p (văn hoá trong kinh doanh) tr ớc tiên là tôn tr ng ph p luật, tôn tr ng nh n phẩm con ng ời, ph i giữ chữ t n và đi u này đòi hỏi ng ời lãnh đạo doanh nghi p ph i có một b n lĩnh đổi mới…” [trích dẫn theo 5]. Như vậy, văn hóa doanh nghiệp có tính ổn định và bền vững, bất chấp sự thay đổi thường xuyên của các cá nhân, kể cả những người sáng lập và lãnh đạo doanh nghiệp. Nó tác động sâu sắc tới động cơ hành động của doanh nghiệp, tạo thành định hướng có tính chất chiến lược cho bản thân doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp luôn đóng vai trò như một lực lượng hướng dẫn, một sức mạnh cố hữu trong doanh nghiệp, là ý chí thống nhất toàn thể lãnh đạo và nhân viên của doanh nghiệp.
7 Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các học giả và hệ thống nghiên cứu lôgic về văn hoá và văn hoá kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp trong nghiên cứu này có thể được định nghĩa như sau: “Văn ho doanh nghi p là toàn bộ những nh n tố văn ho đ c doanh nghi p ch n l c, tạo ra, sử dụng và biểu hi n trong hoạt động kinh doanh, tạo nên b n sắc kinh doanh của doanh nghi p đó”.2 Một số đặc điểm của văn hóa doanh nghiệp Thứ nhất, văn hóa DN liên quan đến nhận thức. Các cá nhân nhận thức được văn hóa của tổ chức thông qua những gì họ nhìn thấy, nghe được trong phạm vi tổ chức. Cho dù các thành viên có thể có trình độ hiểu biết khác nhau, vị trí công tác khác nhau, họ vẫn luôn có xu hướng mô tả VHDN theo cách thức tương tự. Đó chính là “sự chia sẻ” VHDN [5].
Thứ hai, VHDN có tính thực chứng. VHDN đề cập đến cách thức các thành viên nhận thức về tổ chức có nghĩa là chúng mô tả chứ không đánh giá hệ thống các ý nghĩa và giá trị của tổ chức [5]. Thứ ba, VHDN có tính cá biệt. Mỗi tổ chức, đơn vị đều có những điều kiện hoạt động, quy mô và mục tiêu hoạt động khác nhau và được điều hành bởi đội ngũ nhân sự có tính cách và triết lý kinh doanh khác nhau.
Hơn nữa lợi ích của việc xây dựng văn hóa DN là để tạo ra tính đặc thù, bản sắc riêng cho DN giúp phân biệt được DN này với DN khác. Do đó văn hóa doanh nghiệp ở mỗi đơn vị có đặc trưng khác nhau, có tính chất mạnh yếu khác nhau, phong phú và đa dạng [5]. Thứ tư, VHDN có đặc điểm thống nhất hành vi giao tiếp, ứng xử của tất cả mọi người trong cùng một tổ chức. Chính sự thống nhất được hành vi ứng xử của mọi người đối với mọi hoạt động bên trong và ngoài DN đã đem lại kết quả kinh doanh cho DN [5].
Thứ năm, VHDN không phải có được trong ngày một ngày hai mà là qua cả một quá trình gây dựng và vun đắp, quá trình xây dựng VHDN không có 8 điểm đầu và điểm cuối mà VHDN phải được xây dựng trải qua một thời gian dài vun đắp nên. Tuy nhiên VHDN không phải là bất biến mà qua thời gian, VHDN vẫn được các nhà quản lý thay đổi sao cho phù hợp với xu thế phát triển mới của DN [5].3 Vai trò của văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp đóng vai trò là tài sản vô hình của doanh nghiệp là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp thể hiện trên các mặt sau: 1. Văn ho doanh nghi p tạo nên phong th i của doanh nghi p [3] Văn hóa doanh nghiệp chứa đựng trong nó rất nhiều bộ phận và yếu tố như kiến trúc, sản phẩm, tập tục, nghi lễ, thói quen, cách họp hành, chiến lược kinh doanh, logo, ấn phẩm điển hình, giai thoại về người sáng lập doanh nghiệp… Và chính những yếu tố đó đã làm nên một phong thái, một nét riêng, đặc trưng của doanh nghiệp đó mà không doanh nghiệp nào khác có thể bị lẫn vào. Những yếu tố này có ảnh hưởng cực lớn đến hoạt động của doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp giúp phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác bởi những nét văn hoá đặc trưng của doanh nghiệp đó. Và nó cũng gây ấn tượng mạnh cho người ngoài, là niềm tự hào của các thành viên trong doanh nghiệp. Để nhận ra phong thái của một doanh nghiệp không phải là quá khó khăn.