phần mở đầu, danh mục các bảng, hình, tài liệu tham khảo và các phụ lục đính kèm. 5 CHUƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về văn hóa doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về văn hoá Trong những năm vừa qua, khái niệm văn hoá là chủ đề đã được tranh luận khá nhiều, có nhiều cách nhìn nhận, nhiều định nghĩa từ các nghiên cứu khác nhau về văn hoá. Số lượng các định nghĩa về văn hoá trên thế giới tăng dần theo thời gian, từ 164 định nghĩa về văn hoá trong những năm 1950, đến năm 1970 có 250 định nghĩa về văn hoá và ngày nay đã xuất hiện hơn 400 định nghĩa về văn hoá (Phạm Văn Khanh, 2013). Dù có rất nhiều định nghĩa và nghiên cứu, tuy nhiên vẫn có thể nhìn nhận khái niệm văn hoá theo hai cách: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng (Trần Ngọc Thêm, 2013).
Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo không gian và thời gian, theo chiều rộng hoặc chiều sâu. Theo chiều sâu, văn hóa là những giá trị được chắt lọc như văn hoá nghệ thuật, nếp sống văn hoá. Theo chiều rộng, văn hoá bao hàm tất cả giá trị trong các lĩnh vực như giao tiếp, kinh doanh, … Theo không gian, văn hoá cho thấy được sự khác biệt của từng vùng miền khác nhau như văn hoá miền Nam, văn hoá miền Bắc. Giới hạn theo thời gian, văn hoá phân biệt giá trị khác nhau trong từng giai đoạn.
Theo nghĩa rộng, văn hoá được xem là bao hàm tất cả những giá trị do con ngưới sáng tạo ra. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh (2011, trang 431) thì “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Theo Tổng giám đốc UNESCO, Federico Mayor (1989, trang 5) cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này 6 đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise”.
Qua những cách hiểu về khái niệm “văn hoá” , nhìn chung thì văn hóa bao gồm các quan niệm chung mà một tập thể đút kết được và cùng chia sẻ, khi văn hoá nào có thể giải quyết những vấn đề với môi trường bên ngoài và sự hoà hợp bên trong được xem là có giá trị. Theo đó, những đút kết này được xem là có giá trị, được áp dụng truyền đạt lại cho các thành viên mới như là phương thức chuẩn để cảm nhận, tư duy và nhận thức các vấn đề đó.2 Khái niệm về văn hoá doanh nghiệp (VHDN) Văn hoá có trong mọi hoạt động của con nguời, trong mọi lĩnh vực như chính trị, pháp luật, giáo dục, gia đình, … và doanh nghiệp. Trong quản lý điều hành, không thể thiếu công cụ quan trọng như văn hoá. Việc sử dụng văn hoá là cần thiết để trong công tác quản lý cho dù đó là một quốc gia, một doanh nghiệp, hợp tác xã hay một gia đình.
Không dễ để đi tìm một định nghĩa về Văn hoá doanh nghiệp (VHDN) vì sự bao quát VHDN là rất rộng khá rộng, bao gồm nhiều giá trị, ý nghĩa và đòi hỏi phải nhìn nhận từ nhiều khía cạnh. Đồng thời, trên thế giới có rất nhiều cách hiểu và khái nhiệm khác nhau về VHDN. Mặc dù việc thời gian con người tìm hiểu về văn hoá, những nhân tố cấu thành, vai trò của văn hoá không lâu, nhưng đã có rất nhiều khái niệm về VHDN. Tuy nhiên, vẫn chưa có một khái niệm nào được chính thức công nhận là định nghĩa chính xác về văn hoá.
Theo Edga Schein (2010) - chuyên gia nghiên cứu các tổ chức kinh tế - Văn hóa công ty là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh. Tuy nhiên, đa số đồng tình với định nghĩa sau: “Văn hóa doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp; trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp; chi phối tình cảm, nếp suy 7 nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích” (Phan Quốc Việt và Nguyễn Huy Hoàng, 2010). Định nghĩa trên nêu cho thấy được các vấn đề quan trọng của VHDN như sau: Thứ nhất, VHDN được hình thành và đi cùng với sự phát triển của doanh nghiệp từ những ngày mới thành lập, do đó chính những người trong doanh nghiệp đã tạo ra văn hoá, và xem giá trị này như một giá trị bền vững. Thứ hai, những vấn đề, giá trị không phù hợp với doanh nghiệp sẽ bị loại bỏ.
Từ đó, những giá trị trở thành tập quán và quan niệm trong thời dài mới trở thành văn hoá. Thứ ba, những giá trị đó giống như kim chỉ nam, là định hướng ảnh hưởng đến ứng xử, hành vi của các thành viên trong xử lý công việc, đối phó với các vấn đề. Từ ảnh hưởng đến từng cá nhân, những giá trị này sẽ chi phối đến toàn bộ hành vi trong doanh nghiệp.2 Vai trò của văn hoá doanh nghiệp (Duơng Thị Liễu và cộng sự, 2011) Có những doanh nghiệp không xem trọng vai trò văn hóa, chỉ phát triển các chiến lược về tài chính, sản phẩm, kinh doanh mà không xác định hướng, hướng đi cho tất cả các hành động. Và sau đó, họ mất phương hướng, không biết phát triển doanh nghiệp như thế nào.
Những doanh nghiệp được xây dựng trên nền tảng văn hoá tốt sẽ có xuất phát điểm rất cao.1 Đối với doanh nghiệp Thứ nhất, VHDN gồm nhiều yếu tố và bộ phận cấu thành. tất cả các yếu tố này sẽ tạo được nét đặc trưng riêng của doanh nghiệp, tạo sự khác biệt cho doanh nghiệp đó với các doanh nghiệp khác. Các thế hệ thành viên đã cùng nhau làm việc, duy trì và bảo tồn nét đặc trưng của VHDN qua thời gian dài tạo ra nền tảng phát triển vững chác của doanh nghiệp. VHDN là một phần không thể thiếu của doanh nghiệp, có tác động lớn đến hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp.
Thứ hai, VHDN là một nguồn lực của doanh nghiệp. Mục tiêu của VHDN là nhằm xây dựng phương thức quản trị hợp lý đưa doanh nghiệp hoạt động hiệu quả 8 dựa trên xây dựng mối tinh thần đoàn kết của các cá nhân, tạo nên một môi trường làm việc đáng tin cậy. Qua đó, giúp các thành viên tin tưởng vào sự thành công chung của tổ chức, góp tay xây dựng một nền văn hoá đẹp, cầu tiến, thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp và của mỗi cá nhân trong doanh nghiệp. Thứ ba, văn hoá ảnh hưởng tới việc xây dựng chiến lược.
Văn hoá doanh nghiệp ảnh hưởng tới tầm nhìn, định hướng và hoạch định chiến lược của doanh nghiệp. Hoạch định chiến lược tất nhiên phải phù hợp với thực trạng của doanh nghiệp, cho các thành viên thấy hết vai trò quan trọng của tổ chức, vai trò của họ trong tổ chức, tạo được tinh thần gắn bó, nâng cao năng suất lao động. Thứ tư, VHDN tạo động lực làm việc. VHDN không phải là những qui định rập khuôn, cứng nhắc, là rào cản sự đột phá của mỗi cá nhân.
VHDN là những quan niệm chung về các giá trị của doanh nghiệp, thể hiện mối quan hệ tốt đẹp giữa các thành viên, giúp xây dựng môi trường làm việc lành mạnh, thoải mái giúp các thành viên phát huy tính sáng tạo, thúc đẩy khả năng đổi mới của tổ chức. Thứ năm, VHDN thu hút nhân tài và tăng cường sự gắn bó của nguời lao động. Nguời lao động có nhiều sự lựa chọn công việc hơn truớc do vậy việc biến động nhân lực là điều không thể tránh khỏi. Khi đã có đầy đủ về vật chất, con người sẵn sàng đánh đổi vật chất để được cảm nhận sự tôn trọng, sự thoải mái, tinh thần hoà đồng của đồng nghiệp.
VHDN phát triển hiệu quả sẽ góp phần nâng cao tính cạnh tranh, đưa hình ảnh của doanh nghiệp ra ngoài thị trường kinh doanh, có sức hút với những người có tài năng và giữ chân nguời lao động do họ tìm thấy môi trường làm việc ổn định, phù hợp và có tương lai. Thứ sáu là lợi thế cạnh tranh. Tất cả các yếu tố bản sắc, nguồn lực, hoạch định, động lực,. là sự khác biệt, nâng cao hiệu quả hoạt động theo cách riêng, gia tăng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.2 Đối với xã hội VHDN là bản sắc riêng của doanh nghiệp, tạo sự khác biệt cho doanh nghiệp.
Đây là yếu tố thu hút của doanh nghiệp với khách hàng, đối tác, … Kinh tế xã hội càng phát triển, các doanh nghiệp càng chú trọng hơn vào uy tín, mức độ tín 9 nhiệm hơn để làm nền tảng cho việc hợp tác lâu dài là những cái lợi trước mắt. VHDN giúp doanh nghiệp thu hút được các đối tác, các khách hàng đặc biệt là các đối tượng có văn hoá lành mạnh. Thứ nhất, các doanh nghiệp lớn có văn hoá lành mạnh, tạo được sự đặc trưng riêng cũng sẽ giúp khách hàng an tâm hơn khi sử dụng những sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp. Khách hàng dễ dàng hài lòng với sản phẩm mới vì họ cảm nhận giá trị của doanh nghiệp trong sản phẩm.
Từ đó, họ sẽ không bị sự lôi kéo từ các đổi thủ và hơn thế nữa đây là đối tượng giúp nâng cao thương hiệu của doanh nghiệp một cách hiệu quả nhất. Thứ hai, đối tác sẽ có cảm giác an tâm hơn khi làm việc với doanh nghiệp có VHDN tốt, để hợp tác lâu dài và bền vững họ sẵn sàng đưa ra những trợ giúp như ưu đãi về giá, ưu đãi về phương thức thanh toán, … Thứ ba, những doanh nghiệp có bề dày hoạt động tốt sẽ tạo được sự tin cậy đối với chính phủ và các cơ quan nhà nước và có thể chấp nhận rút ngắn các quy trình không cần thiết. Ngoài ra, các cơ quan quản lý còn ủng hộ sự phát triển của doanh nghiệp để có thể nhân rộng văn hoá lành mạnh của doanh nghiệp.