Chương 1: Những vấn đề lý luận về xây dựng pháp luật trợ cấp nông nghiệp Việt Nam theo quy định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Chương 2: Các quy định của WTO và pháp luật nước ngoài về trợ cấp nông nghiệp. Chương 3: Thực trạng pháp luật trợ cấp nông nghiệp Việt Nam, định hướng, nguyên tắc cơ bản và giải pháp xây dựng pháp luật trợ cấp nông nghiệp. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG PHÁP LUẬT TRỢ CẤP NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM THEO QUY ĐỊNH CỦA TỔ CHỨC THƢƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) 1.
LỊCH SỬ RA ĐỜI, HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA WTO 1. WTO có nguồn gốc từ sự ra đời của GATT Năm 1947, 23 nước tại Liên hợp quốc đã quyết định cùng đàm phán để cắt giảm hàng rào thuế quan nhằm nhanh chóng thúc đẩy tự do hoá mậu dịch và điều chỉnh lại những biện pháp bảo hộ được duy trì từ đầu những năm 1930. Kết quả của vòng đàm phán này là hơn 45.000 cam kết về thuế quan ảnh hưởng đến thương mại trị giá 10 tỷ USD, tức là gần 1/5 tổng thương mại trên toàn thế giới vào thời điểm bấy giờ đã được thống nhất và thực hiện. Tổng hợp những quy định và cam kết đã thoả thuận này được đưa vào một văn kiện pháp lý quốc tế có giá trị ràng buộc đối với các nước.
Văn kiện pháp lý đó chính là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT). GATT đã được 23 nước chính thức ký vào ngày 23/10/1947 và có hiệu lực vào ngày 1/1/1948. 23 nước ký GATT sau này đã trở thành những thành viên sáng lập của WTO. Do GATT không phải là một tổ chức mà chỉ là một Hiệp định đa biên, nên các nước tham gia GATT được gọi là các bên ký kết (Contracting parties) [2, 4].
Qua 48 năm tồn tại, GATT đã tổ chức được 08 vòng đàm phán quan trọng về thương mại tập trung vào các vấn đề về thuế quan. Ở 06 vòng đàm phán đầu tiên, giảm thuế là nội dung duy nhất được các bên thảo luận. Sở dĩ như vậy là do thuế là công cụ trực tiếp nhất để Chính phủ các nước tác động lên hoạt động trao đổi thương mại với bên ngoài, đồng thời là rào cản đáng kể nhất đối với tiến trình tự do hoá và ổn định môi trường thương mại quốc tế. Nội dung của các vòng đàm phán này có thể tóm tắt được như sau [2, 4]: 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các vòng đàm phán của GATT Số Hạng mục Năm Địa điểm Các kết quả khác quốc gia giảm thuế 1947 Geneve 23 45.000 Ảnh hưởng đến 10 tỷ USD Hàng hoá buôn bán , bằng 1/5 giá trị thương mại thế giới .000 Thuế suất giảm trung bì nh 35%, số hàng được giảm thuế chiếm 5,6% giá trị hàng hoá buôn bán của thế giới 1950-1951 Torquay 38 8.700 Thuế suất giảm trung bì nh 26% 1956 Geneve 26 3.000 Thuế suất giảm trung bì nh 15%, ảnh hưởng tới 2,5 tỷ USD kim ngạch thương mại thế giới .400 Thuế suất giảm trung bì nh 20%, ảnh (vòng Dillon) hưởng tới 4,5 tỷ USD kim ngạch thương mại thế giới .300 Giảm trung bình 35%, ảnh hưởng tới (vòng Kennedy) 40 tỷ USD kim ngạch thương mại thế giớ i 1973-1979 Geneve 102 33.000 Thuế suất bì nh quân sản phẩm chế (vòng Tokyo) biến giảm xuống còn 4,7% ( so với mức 40% khi thành lập GATT 1986-1994 Geneve 123 Các nước phát triển đưa số hạng mục (vòng Urugoay) hàng hoá cam kết giảm thuế từ 78% lên 99%, các nước đang phát triển từ 21% lên 73%.
Nguồn: Tài liệu Ban Thư ký WTO chuẩn bị cho chương trình đào tạo về WTO ở các nước thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (4/1997). Tại 02 vòng đàm phán cuối do có sự tham gia của nhiều nước với mong muốn phát triển thương mại quốc tế, số lượng số nước gia nhập GATT đã tăng lên đáng kể, từ 23 nước ban đầu (1947) lên đến 102 (năm 1979) và 123 nước (1994). Các nước đang phát triển với tư cách là các nước tham gia GATT đã 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cam kết đưa hạng mục hàng hoá thương mại giảm thuế từ 21-73%. Tại Vòng đàm phán Tokyo (1973-1979), do tình hình thương mại thế giới có nhiều thay đổi, một số lĩnh vực mới được bổ sung và đưa vào chương trình nghị sự của các cuộc đàm phán tại vòng Tokyo.
Tiếp đến là vòng Urugoay diễn ra trong bối cảnh của các cuộc khủng hoảng, khủng hoảng chu kỳ gắn liền hoặc liên tiếp xen kẽ các cuộc khủng hoảng cơ cấu, đưa nền kinh tế thế giới vào suy thoái trầm trọng. Trong tình hình khó khăn như vậy, xung đột thương mại giữa các nền kinh tế lớn trở nên gay gắt, rồi bùng nổ dưới hình thức các cuộc chiến tranh thương mại nhằm tranh dành những khoản lợi nhuận đang ngày càng trở nên khan hiếm. Các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh và các hàng rào phi thuế đã được dựng lên để bảo hộ thị trường trong nước và làm cho thương mại quốc tế xấu đi trông thấy. Tình hình đó đặt ra cho các thành viên của GATT yêu cầu khách quan là phải đưa những vấn đề liên quan đến phi thuế vào thương lượng để tìm ra các lợi ích dung hoà cho nhau [2,4].
Ngày 15/4/1994, tại Marrakesh, các Bộ trưởng đại diện cho tất cả các bên ký hiệp định chung về thuế quan và thương mại - gọi tắt là GATT 1947, đã nhất trí ký kết văn kiện cuối cùng với 500 trang văn bản và 26.000 trang danh mục, cam kết thừa nhận kết quả của vòng đàm phán Urugoay sau hơn 8 năm đàm phán, đó là Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới - WTO. WTO chính thức hoạt động từ ngày 1/1/1995 [46]. Các nội dung thống nhất trong đàm phán WTO Trợ cấp và các biện pháp đối kháng (Điều 6, 16 và 23) Các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại Mua sắm chính phủ Chống phá giá Thoả thuận về sản phẩm thịt bò Thoả thuận về các sản phẩm sữa quốc tế Thỏa thuận chung về nông nghiệp Nguồn: Đại học Melbourne, Luật Quốc tế - Chương 7, tr. Vòng đàm phán Urugoay đã đem đến một bước tiến dài trong nỗ lực của 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các nước, nhằm cải tổ và mở rộng hệ thống thương mại đa biên.
Phạm vi các vấn đề thuộc chương trình nghị sự này rất lớn, bao trùm tới 15 lĩnh vực khác nhau của thương mại quốc tế. Và đặc biệt hơn, chúng mang tính cả gói, theo đó các nước thoả thuận rằng, nếu việc đàm phán trong một lĩnh vực nào đó bị thất bại thì kết quả của tất cả các cuộc đàm phán khác cũng sẽ bị huỷ bỏ. Điều này thể hiện quyết tâm của các nước là muốn đi đến cùng trong việc thương lượng về những lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm như nông sản và hàng vải sợi may mặc, dù biết trước là sẽ có khó khăn. Chức năng, nhiệm vụ các nguyên tắc cơ bản của WTO Nhiệm vụ của WTO là xây dựng một môi trường thương mại thế giới tự do và minh bạch, tạo điều kiện cho các hoạt động thương mại phát triển một cách bình đẳng, đóng góp vào sự tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế toàn cầu.
WTO cũng có cơ chế phối hợp với các tổ chức quốc tế khác nhằm thúc đẩy nhanh hơn quá trình tự do hoá thương mại và hội nhập toàn diện của các quốc gia thành viên. Để thực hiện được nhiệm vụ này, WTO đã đưa ra 06 chức năng cơ bản sau14: Thứ nhất, tổ chức các cuộc đàm phán đa biên đối với tất cả các vấn đề liên quan đến thương mại quốc tế dựa trên các Hiệp định chính của mình. Thứ hai, xây dựng, sửa đổi các nguyên tắc, quy tắc pháp lý quốc tế liên quan. Thứ ba, xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp về thương mại quốc tế.
Thứ tư, đánh giá định kỳ về chính sách thương mại của các nước nhằm tạo sự minh bạch và phát triển kinh tế thị trường quốc tế. Thứ năm, đưa ra cơ chế giám sát việc thực hiện các Hiệp định. Thứ sáu, phối hợp với các tổ chức quốc tế khác trong việc tham gia đàm phán những chính sách thương mại toàn cầu có ảnh hưởng đến nhiều quốc gia. Một số nguyên tắc cơ bản của WTO Nguyên tắc không phân biệt đối xử: 14 06 chức năng này được quy định tương đối cụ thể tại Hiệp định Marrakesh 1994 về thành lập WTO.
18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đây là nguyên tắc quan trọng nhất của WTO. Nguyên tắc này sử dụng hai nguyên tắc pháp lý để điều chỉnh mối quan hệ thương mại giữa các thành viên, đó là là Đãi ngộ tối hệ quốc (MFN) và Đãi ngộ quốc gia (NT). Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (MFN): Mỗi thành viên của WTO phải dành, ngay lập tức và không điều kiện cho hàng hoá, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ hay nhà đầu tư của các nước thành viên khác sự đãi ngộ không kém phần thuận lợi hơn sự đãi ngộ mà mỗi nước thành viên đó đã dành cho hàng hoá, dịch vụ có xuất xứ từ hay được giao tới bất kỳ một nước thành viên nào khác. Hệ quả tất yếu của nguyên tắc này là hàng hoá có xuất xứ từ các nước thành viên được đãi ngộ như nhau trên thị trường của tất cả các thành viên WTO.
Nguyên tắc MFN hướng vào mục tiêu tạo sự bình đẳng giữa tất cả các nước thành viên của WTO trong thương mại quốc tế. Có thể nhận thấy rằng đây là nguyên tắc cơ bản nhất để các quốc gia WTO dựa vào đàm phán song phương và đa phương với các Hiệp định khác nhau của WTO. Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT): Theo đó, mỗi thành viên của WTO phải dành cho hàng hoá, dịch vụ hay quyền sở hữu trí tuệ, nhà đầu tư của các nước thành viên khác sự đãi ngộ trên thị trường nội địa nước mình sau khi đã được nhập khẩu, không kém phần thuận lợi hơn sự đãi ngộ đã được dành cho hàng hoá, dịch vụ hay quyền sở hữu trí tuệ, hay nhà đầu tư của chính nước mình. Nếu như MFN hướng về sự không phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ của một thành viên của WTO với hàng hoá, dịch vụ …của tất cả các thành viên khác của WTO thì NT hướng về sự không phân biệt đối xử giữa sản phẩm, dịch vụ của nước nhập khẩu với hàng hóa, dịch vụ của nước mình.