MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước ta hiện nay có khoảng 122.500 ha chè, đứng thứ 5 về diện tích. Nhưng thị phần chè Việt Nam lại khá khiêm tốn trong xuất khẩu chè thế giới, một phần do chất lượng thấp không đáp ứng yêu cầu về chất lượng cũng như an toàn theo tiêu chuẩn nhiều nước, một phần do năng suất, sản lượng không cao. Đây là tồn tại lớn của ngành chè nhiều năm nay, nguyên nhân chính là sự phát triển quá ồ ạt của các cơ sở chế biến chè, sự thu mua ồ ạt chè nguyên liệu không phân loại, không kiểm tra chất lượng của thương lái một số nước trong đó có Trung Quốc qua đường tiểu ngạch, làm cho người dân bỏ qua các mô hình chè an toàn, tăng diện tích chè ồ ạt nhưng chất lượng chè lại không đảm bảo.
Chè bẩn, chè không rõ nguồn gốc rất nhiều, lại thiếu chè thương hiệu, chè sạch, chè ngon, dẫn đến tình trạng, chè xuất khẩu ít, giá chè thấp, khan hiếm nguyên liệu. Do vậy để có nguyên liệu sản xuất nhiều nhà máy trong nước thu mua nguyên liệu mà không quan tâm đến chất lượng chè đầu vào, không kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, dư lượng kim loại nặng cũng như các nguy cơ không an toàn khác. Từ lâu, cây chè ở Việt Nam đã trở thành một phần quan trọng của văn hóa và là một mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Việt Nam đang là nước sản xuất chè lớn thứ 5 trên thế giới,với 80% sản lượng chè phục vụ các thị trường xuất khẩu.
Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, là một trong những địa phương có điều kiện tự nhiên thích hợp để phát triển cây chè, cây chè đã được người dân nơi đây trồng từ rất sớm, trong sản xuất nông nghiệp hiện nay cây chè không chỉ là cây xóa đói, giảm nghèo mà đã giúp nhiều gia đình có kinh tế khá hơn, từng bước vươn lên làm giàu. Mặt khác cây chè cũng đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong nhiều năm qua, ngành chè của xã đã có bước phát triển,song kết quả còn chưa cao so với tiềm năng và còn nhiều vấn đề cần phải xem xét,giải quyết. Đến nay về diện Luan van 2 tích trồng chè, năng suất và sản lượng chè tăng đáng kể.
Tuy nhiên, việc phát triển sản xuất cây chè còn gặp nhiều khó khăn như một số nơi còn phát triển tự phát, không theo quy hoạch, sản lượng chè chế biến sản xuất ra không ổn định, chưa chủ động được thị trường, thiếu sản phẩm cao cấp, mối liên hệ giữa doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ và người trồng nguyên liệu chưa bền vững…làm giảm hiệu quả kinh tế của cây chè.[1] Những năm trước, tình hình tiêu thụ chè, xuất khẩu chè rất tốt, nhưng những năm gần đây yêu cầu chè ngày một cao hơn về chất lượng, mẫu mã,… chỉ có thể bán được chè chất lượng cao, đảm bảo an toàn thực phẩm, nhất là các sản phẩm chè xuất khẩu. Sản phẩm chè của nước ta đang phải cạnh tranh gay gắt với sản phẩm của các nước có quy trình sản xuất tiên tiến. Do đó sản xuất chè hữu cơ trên địa bàn xã Tức Tranh đã có bước phát triển, song kết quả chưa cao và chưa tương ứng với tiềm năng hiện có. Các hộ trồng chè vẫn chưa kiểm soát được dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, vi sinh vật và kim loại nặng trong đất gây nên hiện tượng an toàn vệ sinh thực phẩm kém chất, lượng chè chưa cao, mẫu mã không đẹp, chuyển giao công nghệ trong sản xuất, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch còn hạn chế dẫn đến tình trạng giá chè thấp, khó tiêu thụ và cây chè không phát triển hết tiềm năng [2].
Như vậy thực trạng phát triển sản xuất chè hữu cơ ở xã Tức Tranh như thế nào? Giải pháp nào để thúc đẩy phát triển sản xuất chè hữu cơ tương xứng với ưu đãi của thiên nhiên dành cho xã? Đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất chè theo hướng hữu cơ tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” sẽ góp phần trả lời câu hỏi trên. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất chè theo hướng hữu cơ, những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất chè hữu cơ đồng thời đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất chè hữu cơ quy mô hộ gia đình tại địa bàn xã Tức Tranh. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất chè theo hướng hữu cơ trên địa bàn xã Tức Tranh, trong 3 năm gần đây (2018-2020). - Đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất chè hữu cơ trên địa bàn xã trong thời gian tới.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Cung cấp những thông tin về thực trạng sản xuất chè năm 2020 và hiểu biết về chè hữu cơ của các hộ trồng chè trên địa bàn xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Nhu cầu và những khó khăn cản trở tham gia sản xuất chè hữu cơ của họ. Ý nghĩa trong thực tiễn Đề xuất giải pháp sản xuất chè hữu cơ nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ trồng chè đồng thời tận dụng tối đa thể mạnh về tự nhiên và xã hội của địa phương để phát triển sản xuất.
Ý nghĩa đối với sinh viên Quá trình thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên có cơ hội tiếp cận thực tế, có cơ hội vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tiễn. Đồng thời giúp sinh viên củng cố kiến thức và học tập thêm những kiến thức kỹ năng mới. Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2.
Vai trò của sản xuất chè Chè là thứ nước uống có nhiều công dụng, vừa giải khát, vừa chữa bệnh. Người ta tìm thấy trong chè có tới 20 yếu tố vi lượng có lợi cho sức khỏe, ví dụ cafein kích thích hệ thần kinh trung ương, tamin trị các bệnh đường ruột và một số axit amin cần thiết cho cơ thể. Chè là cây công nghiệp dài ngày, trồng một lần cho thu hoạch nhiều năm. Tuổi thọ của chè kéo dài 50-70 năm, cá biệt nếu chăm sóc tốt có thể tới hàng trăm năm.
Chè là loại cây có giá trị kinh doanh tương đối cao. Một ha chè thu được 5-6 tấn chè búp tươi có giá trị ngang với một ha lúa ở đồng bằng và gấp 3 - 4 lần một ha lúa nương. Vì vậy có thể nói cây chè là cây "xoá đói giảm nghèo, điều hoà lao động từ đồng bằng lên các vùng xa xôi hẻo lánh, góp phần phát triển kinh tế miền núi bảo vệ an ninh biên giới. Sản xuất và xuất khẩu chè thu hút một lượng lao động khá lớn (hơn 22 nghìn lao động chính kể cả lao động chính, kể cả lao động phụ và lao động dịch vụ là gần 300 nghìn người với mức thu nhập ổn định và không ngừng tăng (thu nhập bình quân toàn ngành năm 1996 đạt 250 nghìn đồng/người/tháng, năm 1999 tăng lên 350 nghìn người/tháng).[3] Trồng chè cũng chính là "phủ xanh đất trống đồi trọc", cải thiện môi trường sinh thái.
Với phương châm trồng chè kết hợp nông lâm, đào dãy hào giữa các hàng chè để giữ mùn giữ nước,sử dụng phân bón hợp lý… ngành chè đã gắn kết được phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường. Chè là một sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao: Một ha chè thâm canh thu hoạch được 10 tấn búp tươi chế biến được hơn 2 tấn chè khô, đem xuất khẩu sẽ thu được một lượng ngoại tệ tương đương với khi xuất khẩu 200 tấn than và đủ để nhập khẩu 46 tấn phân hoá học. Luan van 5 Sản xuất chè thúc đẩy các ngành công nghiệp, dịch vụ khác phát triển: phát triển cây chè gắn liền với phát triển ngành công nghiệp chế biến.Chè là nguyên liệu cho các nhà máy chế biến các sản phẩm liên quan đến cây chè.Ngoài ra chè còn thúc đẩy du lịch, du lịch sinh thái phát triển. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè Điều kiện tự nhiên: Nhân tố điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển sản xuất chè.
Các yếu tố như lượng mưa, khí hậu, nhiệt độ, đất đai,. là các yếu tố quan trọng có tác động đến chất lượng chè. Nguồn vốn: Để phát triển sản xuất chè, việc huy động vốn đầu tư là rất quan trọng. Hiện nay có rất nhiều nguồn vốn có thể huy động, nhưng nguồn vốn quan trọng nhất là Nhà nước đã giao quyền sử dụng đất lâu dài cho người trồng chè.
Ở các nông trường công nghiệp cũng được giao khoán vườn chè và giao đất để trồng chè mới. Kỹ thuật - công nghệ: Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, chất lượng của cây chè. Nếu áp dụng khoa học kỹ thuật tốt sẽ tạo điều kiện tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm chè. Khả năng ứng dụng khoa học công nghệ có liên quan tới trình độ tay nghề, những hiểu biết của người làm chè về những kỹ thuật trong trồng, chế biến chè.
Lao động: Nhân tố con người có vai trò quyết định trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nói chung và cũng là nhân tố quan trọng trong phát triển sản xuất chè. Lao động trong sản xuất chè bao gồm lao động trong trồng chè, lao động chế biến và tiêu thụ. Để đạt được năng suất, chất lượng cao trong sản xuất chè thì ngoài công nghệ chế biến hiện đại, yếu tố quan trọng hơn cả là người lao động phải có trình độ tay nghề. Trong cả ba khâu: trồng, chế biến, tiêu thụ đều đòi hỏi người lao động phải có kỹ năng lao động.
Hiện nay ở nước ta trình độ của người lao động ngày càng được nâng cao, tuy nhiên số lượng lao động này lại phân bố không đều. Vì vậy ngành chè cần phải có biện pháp phân bố lại lao động sao cho hợp lý và đào tạo nâng cao trình độ tay nghề cho lao động ở các vùng trồng chè vùng sâu, vùng xa. Luan van 6 Cơ sở hạ tầng: Kết cấu hạ tầng cơ sở là toàn bộ các công trình và trang thiết bị của quá trình tái sản xuất xã hội, được tổ chức cân đối và liên kết với nhau trong không gian. Chúng phục vụ cho những nhu cầu cung cấp và dịch vụ của nhân dân, của bộ máy hành chính và các cơ sở sản xuất.
Đối với ngành chè, mạng lưới cơ sở hạ tầng là điều kiện phát triển sản xuất và tiêu thụ cho người, cơ sở và doanh nghiệp.