CHƯƠNG 1 CƠSỞLÝLUẬNVỀX DỰNGMITRƯNGVNHA TRƯ NG ĐẠI HỌC 1. Văn hóa và môi trường văn hóa 1. Văn hóa Văn hóa là một thuật ngữ có nội hàm ngữ nghĩa khá phong phú và phức tạp, có nguồn gốc cả ở phương Tây và phương Đông. Ở phương Tây, từ văn hóa xuất hiện rất sớm trong đời sống ngôn ngữ, ban đàu nó là một từ có căn gốc La tinh “colere”, sau trở thành “cultura” nghĩa là cày cấy, vun trồng, về sau, “cultura” được chuyển sang nghĩa rộng hơn là sự vun trồng tinh thần, trí tuệ.
Cicéron, nhà chính trị hùng biện thời La Mã (thế kỷ I Tr.CN) từng có câu nói nổi tiếng: “Filosofia cultura animiest” nghĩa là: Triết học là văn hóa (sự vun trồng) tinh thần, chính là nói về quá trình giáo dục, bồi dưỡng về các mặt tinh thần, trí tuệ cho con người. Ở phương Đông, từ văn hóa xuất hiện vào thời Tây Hán.CN) trong sách Thuyết Uyển, bài Chỉ Vũ có viết: “Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức, sau mới dùng vũ lực. Phàm dùng vũ lực đều để đối phó kẻ bất phục tùng, dùng văn hóa không thay đổi được thì sau đó sẽ chinh phạt” [11, tr. Ở đây, văn hóa được hiểu như một cách giáo hóa đối lập với vũ lực, theo đó văn hóa là “văn trị giáo hóa” tức là dùng “văn trị” (cái hay, đẹp) để “giáo hóa” (giáo dục cảm hóa) con người.
Như vậy có thể thấy, ngay từ thuở rất xa xưa, ở cả phương Tây và phương Đông, con người đã ý thức được về văn hóa và vai trò của nó đối với việc giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, trí tuệ và tình cảm con người. Mặc dù có mặt rất sớm trong đời sống ngôn ngữ như vậy, nhưng phải đến thế kỷ XVIII, từ văn hóa mới được đưa vào sử dụng như một thuật ngữ khoa học với ý nghĩa: văn hóa là toàn bộ những gì được tạo ra do hoạt động xã hội của con người, nghĩa là văn hóa đối lập với trạng thái tự nhiên. Cuối thế kỷ XIX, sau khi công trình “Văn hóa nguyên thủy” của E. Taylor được công bố (1871), ngành khoa học về văn hóa mới chính thức được khẳng định.
11 Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 Tuy nhiên, chỉ đến thế kỷ XX, đặc biệt là những thập niên cuối của thế kỷ, việc nhận thức về văn hóa và vai trò của nó đối với đời sống xã hội mới thực sự được chú ý. Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ khiến con người tiến nhanh về phía trước với những bước đi của “người khổng lồ”, song bên cạnh đó là sự sụp đổ về mô hình phát triển ở một số quốc gia dân tộc chỉ chú trọng phát triển kinh tế thuần túy, xem nhẹ vai trò của văn hóa đã khiến cho con người b t đầu nhìn nhận văn hóa với một nhãn quan mới. Văn hóa được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Bằng lập luận của mình, mỗi nhà khoa học đều có sự phân tích, bổ sung thêm, làm cho văn hóa trở thành một đối tượng đặc biệt có nội hàm không ngừng được mở rộng, được nhìn nhận với một thái độ rất văn hóa và cũng rất khoa học.
Có thể nói, có bao nhiêu người nghiên cứu văn hóa thì có bấy nhiêu định nghĩa về văn hóa, và việc đưa ra một khái niệm đầy đủ về văn hóa là vô cùng khó khăn. Jacques Dérrida, nhà nghiên cứu văn hóa người Pháp đã phải thốt lên: “Văn hóa chính là cái tên mà chúng ta đặt cho điều bí ẩn không cùng với những ai ngày nay đang tìm cách suy nghĩ về nó” [21, tr. Từ điển Triết học đưa ra định nghĩa: “Văn hóa gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội - lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội. Văn hóa là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội” [58, tr.
Hiện nay UNESCO đang nhìn nhận văn hóa với một ý nghĩa rộng rãi hơn, coi văn hóa như một phức thể - tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, tình cảm. kh c họa nên bản s c của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng miền, quốc gia, xã hội. Năm 1988, khi phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, Tổng giám đốc UNESCO, Federico Mayor cũng đưa ra một định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của cá nhân và cộng đồng trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, 12 Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.
Với ý nghĩa đó, văn hóa có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù đó là hoạt động sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần, hay trong quan hệ giao tiếp ứng xử xã hội, trong thái độ đối với thiên nhiên. Ở Việt Nam nước ta, văn hóa từ danh từ chuyển hóa thành thuật ngữ đa nghĩa cả trong ngôn ngữ thường ngày lẫn trong luận điểm khoa học. Xa xưa, ông cha ta dùng từ “văn hiến” thay cho từ văn hóa như hiện nay và nội hàm của nó cũng chưa mở rộng như các giai đoạn sau này. Từ đời Lý (1010), người Việt đã tự hào nước mình là một “văn hiến chi bang”.
Đến đời Lê (thế kỷ XV), danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã khẳng định: “Duy ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang” (nước Đại Việt ta từ xưa thực sự là một nước văn hiến). Từ “văn hiến” mà Nguyễn Trãi dùng ở đây là một khái niệm rộng chỉ một nền văn hóa cao, trong đó nếp sống tinh thần, đạo đức được chú trọng [89]. Năm 1942, tại “Mục đọc sách” viết xen trong bản thảo “Nhật ký trong tù”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa hết sức xác đáng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [40, tr.
Với định nghĩa này, Hồ Chí Minh bằng cách tiếp cận biện chứng đã n m b t trạng thái vận động và cả trạng thái tĩnh của văn hóa. Học giả Đào Duy Anh trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương cũng đưa ra một nhận định mang dáng nét tương đồng với quan niệm của Hồ Chủ tịch: “Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương tiện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: “Văn hóa tức là sinh hoạt” [2, tr. Những năm gần đây, nghiên cứu văn hóa thực sự trở thành một môn khoa học tại Việt Nam. Một số học giả tập trung nghiên cứu về văn hóa tiếp 13 Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 tục đưa ra các quan niệm của mình về văn hóa.
Trên cơ sở phân tích các định nghĩa về văn hóa, Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn tong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [56, tr. Định nghĩa này đã nêu bật bốn đặc trưng quan trọng của văn hóa là: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh. Ngoài ra, một số các định nghĩa khác của Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Hoàng Vinh, Trần Văn Bính, Trường Lưu. cũng là những đóng góp quan trọng bổ sung cho nhận thức chung về văn hóa.
Mặc dù đứng ở nhiều góc độ tiếp cận khác nhau nên cách giải thích, cách quan niệm cũng khác nhau song nhìn chung, đại đa số các nhà nghiên cứu văn hóa đều quan niệm văn hóa g n với con người, là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra, trở thành bộ phận cơ bản trong xã hội. Tóm lại, văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt có tính ngành nghề. Đó là hoạt động nhằm phát huy những năng lực bản chất của con người, vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ. Văn hóa là hoạt động nhằm tạo ra những giá trị, những chuẩn mực xã hội.
Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân và hoạt động có hướng đích nhằm đạt tới một giá trị nào đó trong xã hội. Văn hóa là “thiên nhiên thứ hai”, là “cái nôi' nuôi dưỡng tâm hồn và hình thành nên phẩm giá con người. Một không gian văn hóa lành mạnh bao gồm toàn bộ những sản phẩm, hành động, khuôn mẫu ứng xử. chứa đựng hệ thống giá trị nhân văn và vốn kinh nghiệm xã hội, sẽ tạo thành “môi trường văn hóa” lành mạnh nuôi dưỡng đời sống tinh thần con người, phát triển con người ngày càng hoàn thiện về mọi mặt.
Đây chính là cơ sở lý luận quan trọng để tiếp cận, nghiên cứu về môi trường văn hóa. Môi trường văn hóa Khái niệm “môi trường” chỉ một phạm vi rất rộng lớn. Theo định nghĩa của UNEP (chương trình môi trường của Liên hợp quốc) thì: “Môi trường là 14 Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 thế giới mà chúng ta đang sống trong đó”; trong quan niệm của nhà nghiên cứu Ấn Độ Suriyakuran, “môi trường có thể được xác định như là tổng di sản hành tinh và tổng số của tất cả các tài nguyên” [45, tr. Michel Batisse, nhà nghiên cứu người Pháp nổi tiếng về môi trường và tài nguyên thiên nhiên đã khẳng định: “Môi trường không chỉ bó hẹp ở những không gian được gọi là tự nhiên và đã bị biến đổi ít nhiều qua các thời kỳ mà còn bao gồm cả những không gian nhân tạo làm thành khung cảnh cho cuộc sống của hầu hết mọi người” [39, tr.
Trên cơ sở những quan niệm về môi trường theo nghĩa rộng mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra, Trường Lưu khái quát lại: “Về một định nghĩa chung nhất thì môi trường là những gì g n chặt và bao quanh con người” [37, tr. Nói đến văn hóa là nói đến con người, chỉ có con người mới có văn hóa và sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới. Và cũng dễ thấy rằng môi trường sống của con người không chỉ là môi trường tự nhiên mà còn là môi trường xã hội.