CHƯƠNG 1: CO SO LY LUAN Trong chương này, chúng tôi sẽ tìm hiểu nguồn gốc các hình thức hỗ trợ học tập qua nhiều thời kỳ: những biển chuyển của hình thức học tập này dưới tác động của tôn giáo, giai cấp, giáo dục để đi đến một định nghĩa tổng quát. Tiếp theo, chúng tôi sẽ đề cập đến phương thức tổ chức kiểu học tập này dựa trên nghiên cứu của các nhà giáo dục châu Âu vả châu Mỹ. Sau cùng là phẩn trình bày các mô hình điển hình trên thế giới, sở để chúng tôi xây dựng mô hình #f £rợ học fập cho sinh viên chuyên ngành tiếng Pháp, 1. Từ dạy kèm cá nhân đến Hỗ /rợ học tập giữa người học 1.
- Dạy kèm cá nhân: đôi dòng lịch sir 1. Giai đoạn trước Công nguyên Hinh thức dạy kèm cả nhân đã có tử ngắn xưa, khoáng năm 7000 trước Công nguyên (CN), chủ yếu trong các gia đình giảu có hoặc hoảng tộc. Người dạy thường là các giáo sĩ hoặc xuất thân từ hoàng gia. Nội dung giảng dạy là những giáo luật, lễ luật, nhưng chủ yếu là học viết chữ.
Sau này triết gia Aristote, với thể mạnh về ngôn từ, cũng áp dụng hình thức dạy kẻm này để dẫn dất người học tư duy vẫn đẻ. Giáo dục đạo đức và kiến thức cho trẻ theo hình thức này đã tổn tại suốt thời Hy Lạp cổ đại. Dưới để chế La Mã, vai trỏ của các gia sư không chi la truyền đạt tri thức mả cỏn giúp trẻ phát triển thể lực. Bên cạnh việc học hùng biện, triết học, hội hoạ, văn chương, tiếng La-tinh, tí ig Hy lap, tre cũng được luyện tập các môn thé thao ngoai trời.
Do vậy, gia sư thời bấy giờ được chọn lọc rất kỹ để có thê day tré vừa thành nhân lại vừa thành tài. 'Vào thế kỷ thứ 5 trước CN, Không Tử đã làm thay đối suy nghĩ của người phương Tây về phương điện giáo dục khi tuyên bố “Học thầy không tảy học bạn”. Tử nhả hùng biện Cicéron (sinh nim 63 trước CN) đến triết gia Sẻnèque (sinh khoảng năm thứ 4 trước CN) đều đồng quan điểm giáo dục với Không Tử khi chứng minh việc trỏ lớn kẻm trò bé trong học tập gặt hải nhiều thành công. Nhà sư phạm nổi tiếng Quitilien (sinh năm thứ 5 sau CN) cũng nhắn mạnh tầm quan trọng trong giao tiếp khi cho trỏ lớn tiếp xúc nhiều với trỏ nhỏ.
Giai đoạn sau Công nguyên Từ cuối thể kỷ thứ 5 đến cuỗi thể kỷ 15, đánh dấu sự hình thành một châu Âu hùng mạnh và quyền thống trị của Giáo hội công giáo trên toản châu lục này. Do vậy quan điểm về giáo dục cũng thay đổi. Theo dé, vige day học phải do người có trỉ thức và đạo. đức đảm nhiệm.
Dạy học cho trẻ nhỏ vả trẻ vị thành niên vào giai đoạn nảy thường đo các tu viện nam nữ ở Anh vả Ái Nhĩ Lan phụ trách. Trẻ được học thần học, chính ta, tap doc, thiên văn, toán học, tiếng La-tinh. Hình thức đạy học với qui mô nhóm nhỏ cũng phổ biến trong các nhà dòng giữa các giáo sĩ và tu sĩ. Nhiễu tải liệu về hình thức học tập nảy được ghỉ chép lại bởi các tu sĩ trong vai trò người học.
Đến giữa thế ký 17, giáo dục cá nhân chỉ dảnh cho tẳng lớp quí tộc vả tu sĩ công giáo ghi nhận nhiều chuyên biển. Bắt đầu từ quan điểm của nhả sư phạm Comenius (1592- 1670) khi phân tích và chứng mình việc dạy học đại trả, không phân biệt giai cấp sang hẻn lả cẫn thiết. Ông cho rằng trong một lớp học, trẻ tiếp thu tốt cỏ thể hỗ trợ giáo viên bằng cách "dạy lại” cho trẻ chậm hiểu, Mô hình này dần phát triển và thu hút nhiễu trẻ đến trường dẫn đến tình trạng thiểu hụt giáo viên, sỉ số lớp học có khi lên đến cả trăm. Jean-Baptiste de La Salle (1651-1719) dat van dé can phai dao tạo giáo viên và đề xuất chia người học theo nhóm trình độ để giảm tải áp lực sỉ số.
Chính trong những lớp học đã phân loại theo trình độ nảy, ông đ xuất hình thire day hoc: trd giỏi kèm cặp trò yếu. Từ năm 1786, bai nhà giáo đục Andrew Bell (1753-1832) va Joseph Lancaster (1778- 1838) mới chính thức thừ nghiệm mô hình (ở giỏi kẻm cặp trỏ yổu trong một trường. trung học cơ sở dành cho cô nhỉ ở Anh. Nhận thấy các giáo viên bản xứ không đễ dàng.
đảm nhận việc dạy học cho đối tượng nảy. ông đã chủ trương kêu gọi các trò thông minh vả ngoan ngoãn nhất lớp đảm nhiệm vai trò truyền đạt lại cho những trỏ chậm tiếp thu. Nam 1798, Lancaster mở trưởng dành cho con em công nhân với học phí thấp nhờ vào mô hình trò giỏi kèm trò yếu và gặt hái nhiều thành công. Từ đó hình thức học tập giữa học sinh mới thật sự được biết đến và vươn ra khỏi Anh quốc.
Theo mô hình này, học sinh trong một lớp học được phân thảnh nhiều cấp tuỷ năng lực cả nhân. Học sinh cỏ năng lực chuyên môn tốt sẽ có hai lựa chọn: học vượt lớp hoặc thay thế giáo viên dạy lại cho bạn cùng lớp những gì được truyền đạt từ giáo viên chính. Những học sinh nảy (instructor) ¢6 thé chon cho minh nhiéu try giảng (tutor) dé hd trợ người học với hình thức một kèm một. Mỗi lớp chỉ có một instructor phu trach vé chuyén mén, va nhiéu tutor đảm nhận việc kiểm diện vả ký luật.
Khi ede instructor lên lớp cao hơn thì uưor sẽ trở thành ứnsrwctor, Giáo viên chính sẽ bao quát toàn bộ quá trình vận hành của lớp nhằm đảm bảo chất lượng giảng đạy cũng như nội qui nhà trưởng. Nhà trường cũng lập ra hệ thống thưởng phạt rõ ràng để đánh giá hiệu quả làm việc của instrwctor. Đến đầu thé ky 19, hình thức học tập nảy đã khả phổ biến ở châu Âu và Bắc Mỹ. gọi mô hình này là day học tương hỗ (*enseienement mutuel").
Tuy nhiên nhiều nhà giáo dục đặt nghỉ vấn: liệu các bên tham gia, instructor - tutor - học sinh, có thật sự học hỏi lẫn nhau khi kiến thức được truyền đạt theo một chiều từ iusirweior = học sinh và sự kiểm soát tit tutor >> học sinh? Khi mỗi quan hệ này chỉ mang tính chất người đi trước chỉ đạy người đi sau, thiếu sự trao đổi giữa các đồng đảng? Bell cho rằng trong quả trình giảng. đạy, người dạy đã tự bồi đường cho mình nhiều kiến thức và kỳ năng để có thể đảm nhiệm tốt vai trò được giao. Lancaster cũng đồng quan điểm với Bell. Hình thức học tập này vẫn kéo đài cho đến giữa thể kỷ 20.
Mô hình /#!ố rợ học tập từ nửa sau thế kỷ 20 1. Hoàn cảnh ra đời Những năm đầu thập niên 1960, các trường học tại Mỹ phải đối điện với một đổi tượng học sinh cỏ hoản cảnh đặc biệt: xuất thân nghẻo khó: con em của những gia đỉnh nhập cư gặp nhiều vấn đẻ vẻ ngôn ngừ và khả năng hội nhập cộng đồng. Peggy & Lippitt, (trích bởi Baudhit, 201, tr.6) nhận thấy chênh lệch tuổi tic giữa giáo viễn và học sinh tạo 20 nhiều khoảng cách khi giao tiếp do thiếu sự thấu hiểu của đôi bên. Các nhà nghiên cứu tin tắng vấn để bắt đồng ngôn ngữ sẽ được giái quyết khi những học sinh này trò chuyện với những học sinh lớn tuổi hơn.
Ý tưởng dạy kèm giữa các đồng đẳng ra đời (Topping. 1988, trích bởi Baudrit, đã din). Theo đỏ, người hỗ trợ là học sinh ở lớp lớn hơn, có nhiệm vụ kèm cặp học sinh nhỏ tuổi hơn, giúp các em theo kịp bài và đạt kết quá học tập kha quan. Kinh nghiệm của Mỹ đã thúc đây các các trường đại học và đào tạo nghề trong khôi nói tiếng Anh cải cách hệ thông và chất lượng đảo tạo nhằm tạo thêm nhiều cơ hội học tập.
cho người học. Nhận thấy nhiều sinh viên năm nhất nếu không được hỗ trợ. hướng dẫn từ sớm sẽ rất để bỏ học do kết quá sa sút. Mô hình siuh viêm aäm trên có học lực tắt kèm.
cặp sinh viên năm đưới có vẫn đề trong học tập có thể giải quyết bài toán bỏ học của các tân sinh viên, Thật vây, với kinh nghiệm học tập của mình, sinh viên hỗ trợ sẽ giúp đàn em có động lực vả phương pháp học tập phủ hợp với bậc đại học. Sự thành công trong học tập của học sinh/sinh viên đã lảm cho các nhà giáo dục không thể làm ngơ trước mô hình bỗ trợ học tập này. Nhiều nghiên cứu đã vào cuộc. Từ thập niên 1970.
các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục bắt đầu quan tâm đến mô hình học tập nảy, Trước tiên, họ so sánh sự tiến bộ giữa những học sinh được hỗ trợ trong học tập với những học sinh không tham gia mô hình này. Ngoải kết quả học tập khả quan, các nhả giáo dục cũng ghi nhận sự cải thiện đáng kể vẻ mặt giao tiếp xã hội của người được hỗ trợ lẫn người hỗ trợ. Các công trình nghiên cứu đã chứng minh cả hai đối tượng tham gia vào mô hình đều tìm thấy tác động tích cực đến bản thân (Baudrit, đã din), Nim 1973, Gamer, Kolher & Riessman (trich boi Baudrit, 2009, tr.130) đã có tên goi cho hinh thitc hge tip nay hge bing cach day (“Learning Throught Teaching”). Theo các nhà giáo dục Mỹ, khi thực hiện mô hình này, "người dạy” cần nắm chắc kiến thức trước khi truyền đạt lại cho ban minh, “người đạy” cũng phải biết cách tổ chức giờ học, quan sat và biết giao tiếp với người học.
Chỉ cẩn sự có mặt của người học đủ làm cho người dạy phải chuẩn bị kỳ giáo án, suy nghĩ sẽ nỏi gì, làm gì để có thể giúp người học hoàn thiện kiến thức chuyên môn. Sự “hỗ trợ” tuy giản tiếp từ người học nhưng là động. 21 lực để người dạy phát huy tỉnh thần tự trau dỗi, học hỏi. Do vậy, theo các tác giả mô hình phổ biển đầu thế kỷ 19 không thể gọi là dạy hive tương hổ vì thiểu tính tương tác giữa hai bén tham gia.
Vậy Hỗ trợ học tập là gì? 1. Khái niệm Hỗ trợ học tập trong giai đoạn mới Khái niệm “hỗ trợ học tập” được dịch từ thuật ngữ */øraf" trong tiếng Pháp, hay *wworine” trong tiếng Anh. Từ hình thức đạy kèm cá nhân dành cho các gia đình thượng. lưu, hoàng tộc hay trong tu viện trước công nguyên, mô hình đã mở rộng cho nhiều tầng lớp xã hội và hình thành khái niệm mới về dạy học, theo đó người học cũng có thể trở thành “người dạy” thông qua vai trò hỗ trợ đủ chưa qua trưởng lớp đảo tạo về nghề dạy.