Tổng quan nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, khu vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân giữ vị trí chiến lược đặc biệt với khoảng 75% dân số sinh sống tại địa bàn nông thôn. Tại tỉnh Hà Nam, sau khi tái lập tỉnh vào năm 1997, quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa diễn ra mạnh mẽ đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc bảo tồn các giá trị truyền thống, ngăn chặn sự suy thoái đạo đức và mặt trái của kinh tế thị trường. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng làng văn hóa, đánh giá sự vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng vào thực tiễn địa phương trong 10 năm từ năm 2001 đến năm 2011.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh; phân tích toàn diện quá trình chỉ đạo thực hiện phong trào xây dựng làng văn hóa trên các mặt kinh tế, đạo đức, lối sống, thiết chế văn hóa và hương ước; đúc kết những ưu điểm, hạn chế cùng bài học kinh nghiệm lịch sử quý báu. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ 6 đơn vị hành chính cấp huyện, thành phố thuộc tỉnh Hà Nam, bao gồm thành phố Phủ Lý cùng 5 huyện: Duy Tiên, Kim Bảng, Lý Nhân, Thanh Liêm và Bình Lục. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện rõ qua sự phát triển vượt bậc về số lượng và chất lượng danh hiệu văn hóa, từ con số khiêm tốn 6 làng văn hóa năm 1997 đã tăng lên 143 làng văn hóa vào năm 2004 và hướng tới mục tiêu 60% đến 70% làng đạt chuẩn văn hóa vào năm 2010, tạo động lực nội sinh vững chắc cho sự nghiệp hiện đại hóa nông thôn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin cùng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX và đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII năm 1998 về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với 5 quan điểm chỉ đạo và 10 nhiệm vụ trọng tâm.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa và vận dụng xuyên suốt bao gồm: "Văn hóa làng" (hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần, chuẩn mực ứng xử được tích lũy qua lịch sử cộng đồng làng xã), "Làng văn hóa" (mô hình cộng đồng dân cư nông thôn đạt chuẩn về kinh tế, nếp sống văn minh, môi trường và trật tự an toàn xã hội), "Đời sống văn hóa cơ sở", "Hương ước, quy ước làng xã" (công cụ tự quản bổ trợ đắc lực cho pháp luật nhà nước) và "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn".

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ các văn kiện chính thức của Đảng, các chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh ủy Hà Nam như Kế hoạch 02-KH/TU năm 1998, Chỉ thị 02-CT/TU năm 1998, Báo cáo 92-BC/TU năm 2003; các văn bản quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh gồm Quyết định 66/QĐ-VH năm 1998, Quyết định 89/2000/QĐ-UB năm 2000, Nghị quyết 02/2005/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh; cùng hệ thống báo cáo tổng kết 5 năm, 10 năm và Kỷ yếu Hội nghị tổng kết 20 năm phong trào xây dựng làng văn hóa giai đoạn 1989-2009.

Cỡ mẫu nghiên cứu khảo sát toàn diện hệ thống văn bản và tư liệu thực tiễn tại 6/6 huyện, thành phố với 116 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu điển hình để khảo sát sâu các mô hình điểm tiêu biểu như làng Quang Sán (xã Mỹ Hà, huyện Bình Lục), xã Châu Giang (huyện Duy Tiên), xã Đồng Hóa (huyện Kim Bảng) và xã Thanh Phong (huyện Thanh Liêm).

Luận văn kết hợp chặt chẽ hai phương pháp cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Việc lựa chọn phương pháp lịch sử nhằm tái hiện trung thực, khách quan tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh qua từng chặng đường cụ thể, trong khi phương pháp logic giúp phân tích, khái quát hóa bản chất, tìm ra các quy luật vận động và bài học kinh nghiệm. Bên cạnh đó, các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích - tổng hợp liên ngành giữa sử học, văn hóa học và xã hội học được ứng dụng để định lượng hóa kết quả. Timeline nghiên cứu được chia thành 2 giai đoạn trọng tâm: Giai đoạn 2001-2005 (tập trung thể chế hóa tiêu chuẩn và triển khai mô hình điểm) và giai đoạn 2006-2011 (đẩy mạnh phong trào toàn diện gắn với xây dựng nông thôn mới).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình nghiên cứu thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam giai đoạn 2001-2011 đã mang lại những phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, phong trào xây dựng làng văn hóa đạt tốc độ tăng trưởng vượt bậc về quy mô và chất lượng. Từ xuất phát điểm chỉ có 6 làng văn hóa vào năm 1997, đến năm 2000 toàn tỉnh đã có 70 làng văn hóa, 5 tổ dân phố văn hóa và 75 đơn vị văn hóa. Đến năm 2004, số lượng đã tăng vọt lên 143 làng văn hóa (tăng gần 24 lần so với năm 1997), 6 tổ dân phố, 93 đơn vị văn hóa và 119.625 gia đình đạt chuẩn văn hóa.

Thứ hai, phát triển văn hóa gắn bó chặt chẽ và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong giai đoạn khảo sát, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Hà Nam đạt 11%/năm. Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng mạnh từ 18,6% năm 1996 lên 34,6% năm 2003, trong khi tỷ trọng nông lâm nghiệp giảm tương ứng từ 49,6% xuống 33,7%. Tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước tăng từ 17,56% giai đoạn 1991-1996 lên 30,29% năm 2003, tạo nền tảng kinh tế giúp người dân xóa đói giảm nghèo và đầu tư cho các hoạt động văn hóa.

Thứ ba, việc hoàn thiện thiết chế văn hóa và hương ước được thực hiện đồng bộ tại cấp cơ sở. Huyện Duy Tiên là điểm sáng tiêu biểu với 115/166 thôn, làng (đạt tỷ lệ 69,2%) xây dựng được thiết chế nhà văn hóa, sân thể thao và 132/166 thôn, làng (đạt 79,5%) ban hành quy ước, hương ước tiến bộ. Xã Châu Giang thuộc huyện Duy Tiên đạt 9/15 làng văn hóa (tỷ lệ 60%), dẫn đầu toàn huyện về huy động nguồn lực xã hội hóa xây dựng sân vận động và câu lạc bộ thể thao.

Thứ tư, các mô hình tự quản cộng đồng phát huy hiệu quả cao trong bảo đảm an ninh trật tự và nếp sống văn minh. Hàng trăm mô hình tự quản đã đi vào hoạt động thực chất như tổ tự quản giao thông Phố Bói (xã Thanh Phong, huyện Thanh Liêm), tổ tự quản thị trấn Hòa Mạc, dòng họ tự quản an ninh tại thôn Lạc Nhuế (xã Đồng Hóa, huyện Kim Bảng) và mô hình của Chi hội Cựu chiến binh Thôn 8 (xã Bồ Đề, huyện Bình Lục).

Thảo luận kết quả

Thành công của phong trào bắt nguồn từ sự lãnh đạo sâu sát, kịp thời của Tỉnh ủy và việc cụ thể hóa thành 4 tiêu chuẩn rõ ràng theo Quyết định 89/2000/QĐ-UB. Phương pháp "chọn điểm rồi nhân ra diện rộng" được vận dụng xuất sắc, khởi đầu từ mô hình làng Quang Sán (xã Mỹ Hà, huyện Bình Lục) được ngành văn hóa đầu tư hơn 30 triệu đồng hỗ trợ thiết chế, sau đó mỗi huyện chủ động chọn 4-5 mô hình điểm để nhân rộng ra toàn địa bàn.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu cùng thời kỳ như đề tài khoa học cấp nhà nước về làng văn hóa Thanh Hóa (mã số KX01-15) hay các nghiên cứu tại Thái Bình và Hà Bắc, kinh nghiệm của Hà Nam khẳng định vai trò sống còn của hương ước, quy ước mới theo Hướng dẫn 73/HD-VHTT năm 2000. Hương ước vừa kế thừa thuần phong mỹ tục, vừa kiên quyết loại bỏ hủ tục cưới xin, ma chay, mê tín dị đoan theo tinh thần Chỉ thị 27-CT/TW.

Để biểu diễn trực quan các kết quả này, dữ liệu có thể được mô tả qua biểu đồ cột thể hiện sự tăng trưởng số lượng làng văn hóa từ 6 làng năm 1997 lên 143 làng năm 2004, kết hợp với bảng thống kê đối chiếu sự chuyển dịch tỷ trọng kinh tế và tỷ lệ làng đạt chuẩn văn hóa giữa 6 huyện, thành phố.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng phong trào xây dựng làng văn hóa trong giai đoạn tiếp theo, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và hiệu lực điều hành của chính quyền địa phương. Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các Huyện ủy cần đưa chỉ tiêu làng văn hóa vào nghị quyết đại hội Đảng bộ các cấp, gắn trách nhiệm người đứng đầu chi bộ, thôn xóm với kết quả phong trào. Phấn đấu 100% tổ chức cơ sở đảng tại nông thôn ban hành chương trình hành động chuyên đề về văn hóa và tổ chức đào tạo, nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho hơn 500 cán bộ văn hóa cơ sở trong giai đoạn 2012-2015.

Thứ hai, quy hoạch quỹ đất và hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao đồng bộ. Ủy ban nhân dân tỉnh cùng Sở Xây dựng và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần rà soát quy hoạch tổng thể, đảm bảo 100% xã có quỹ đất và xây dựng trung tâm văn hóa - thể thao, trên 85% thôn xóm có nhà văn hóa đạt chuẩn diện tích sinh hoạt cộng đồng vào năm 2015 theo tinh thần Nghị quyết 02/2005/NQ-HĐND.

Thứ ba, chuẩn hóa, rà soát và thực thi nghiêm túc hương ước, quy ước văn hóa. Sở Tư pháp chủ trì phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh định kỳ 1 năm/lần hướng dẫn các làng tổ chức họp dân sửa đổi, bổ sung quy ước cho phù hợp với pháp luật hiện hành và tình hình mới. Mục tiêu đạt 100% làng, tổ dân phố có bản hương ước được phê duyệt chính thức và trên 95% hộ gia đình cam kết thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, bài trừ triệt để mê tín dị đoan.

Thứ tư, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa và phát huy tính tự quản của nhân dân. Ban Chỉ đạo phong trào cấp huyện, xã cần đa dạng hóa các nguồn lực đóng góp tự nguyện từ doanh nghiệp, con em quê hương thành đạt; nhân rộng tối thiểu 5 mô hình dòng họ tự quản và tổ an ninh tự quản trên mỗi địa bàn xã trong giai đoạn 2012-2020, nâng tỷ lệ làng văn hóa toàn tỉnh đạt từ 75% đến 80% và tỷ lệ gia đình văn hóa đạt trên 90%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu có giá trị ứng dụng thực tiễn và học thuật cao đối với 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm 1: Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan tham mưu chính sách cấp tỉnh, huyện. Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn để Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tham khảo khi xây dựng các đề án phát triển đời sống văn hóa nông thôn mới và chính sách xã hội hóa văn hóa.

Nhóm 2: Giảng viên, nhà nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử Đảng và Văn hóa học. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị giúp khai thác nguồn tư liệu lịch sử xác thực, có hệ thống về quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Nam giai đoạn 2001-2011 phục vụ công tác giảng dạy và biên soạn lịch sử địa phương.

Nhóm 3: Học viên cao học và sinh viên các ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn. Luận văn cung cấp khung phương pháp luận lịch sử - logic chuẩn mực, phương pháp chọn mẫu khảo sát trên 116 xã phường để học viên tham khảo cấu trúc thực hiện đề tài thạc sĩ thuộc mã số chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhóm 4: Cán bộ lãnh đạo cấp xã, thôn xóm và Ban công tác Mặt trận cơ sở. Cán bộ cơ sở có thể áp dụng trực tiếp quy trình xây dựng hương ước 7 bước theo Hướng dẫn 73/HD-VHTT và học tập các mô hình điểm tự quản để vận động nhân dân xây dựng làng văn hóa đạt chuẩn 5 tiêu chí.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình làng điểm đầu tiên trong phong trào xây dựng làng văn hóa tại Hà Nam được triển khai ở đâu và đạt kết quả gì? Mô hình điểm đầu tiên được triển khai tại làng Quang Sán, xã Mỹ Hà, huyện Bình Lục từ những năm 1980. Với khoản kinh phí hỗ trợ hơn 30 triệu đồng từ ngành văn hóa thông tin, địa phương đã xây dựng thành công trung tâm văn hóa - thể thao, củng cố hệ thống trường học, trạm y tế, điện đường và trở thành hình mẫu tiêu biểu cho toàn tỉnh học tập.

Tiêu chuẩn công nhận danh hiệu làng văn hóa tại Hà Nam trong giai đoạn 2001-2005 gồm những nội dung cốt lõi nào? Theo Quyết định 89/2000/QĐ-UB ngày 21-01-2000 của Ủy ban nhân dân tỉnh, làng văn hóa phải đạt 4 tiêu chuẩn trọng tâm: kinh tế phát triển (xóa đói, giảm nghèo, tăng hộ giàu); nếp sống văn minh lành mạnh, không có tệ nạn xã hội; cảnh quan môi trường sạch đẹp; chấp hành tốt pháp luật nhà nước, có hương ước tiến bộ và đạt trên 50% hộ gia đình văn hóa.

Quy trình xây dựng hương ước, quy ước tại các làng quê Hà Nam được tiến hành qua các bước cụ thể nào? Theo Hướng dẫn 73/HD-VHTT năm 2000, quy trình gồm: thành lập ban biên soạn do trưởng thôn đứng đầu; sưu tầm, kế thừa hương ước cũ và soạn thảo nội dung mới; lấy ý kiến nhân dân công khai, dân chủ; tổ thẩm định liên ngành huyện xét duyệt trình Ủy ban nhân dân huyện phê chuẩn; và định kỳ 1 năm/lần họp dân rà soát, bổ sung.

Phong trào xây dựng làng văn hóa đóng góp như thế nào vào công tác giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương? Phong trào đã phát huy mạnh mẽ vai trò tự quản của cộng đồng với hàng trăm mô hình tiêu biểu như tổ tự quản trật tự an toàn giao thông tại Phố Bói (xã Thanh Phong) và thị trấn Hòa Mạc, mô hình dòng họ tự quản an ninh tại thôn Lạc Nhuế (xã Đồng Hóa). Điển hình như xã Châu Giang nhiều năm liền không có khiếu kiện vượt cấp và không có tệ nạn xã hội.

Tốc độ gia tăng số lượng làng văn hóa của tỉnh Hà Nam trong giai đoạn 1997 - 2004 đạt mức độ cụ thể ra sao? Năm 1997 khi tái lập tỉnh, Hà Nam chỉ có 6 làng được công nhận làng văn hóa. Nhờ sự lãnh đạo quyết liệt của Đảng bộ tỉnh qua Kế hoạch 02-KH/TU và Nghị quyết Đại hội XVI, đến năm 2000 toàn tỉnh có 70 làng văn hóa, và đến năm 2004 đã tăng vọt lên 143 làng văn hóa cùng 119.625 gia đình văn hóa, đạt mức tăng trưởng gần 24 lần.

Kết luận

  • Khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện, sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam qua các kỳ Đại hội XVI, XVII trong việc vận dụng linh hoạt Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII vào thực tiễn địa phương.
  • Ghi nhận bước nhảy vọt về quy mô phong trào từ 6 làng văn hóa năm 1997 lên 143 làng văn hóa và 119.625 gia đình văn hóa vào năm 2004 trên địa bàn 6 huyện, thành phố.
  • Đúc kết thành công phương thức lãnh đạo "chọn điểm nhân diện rộng" gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng hương ước, quy ước tự quản của nhân dân.
  • Chứng minh mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế (GDP tăng trưởng 11%/năm) với việc củng cố nếp sống văn minh và giữ vững ổn định chính trị nông thôn.
  • Đóng góp nguồn tư liệu lịch sử xác thực, đặt nền móng lý luận và thực tiễn vững chắc cho sự nghiệp xây dựng nông thôn mới của tỉnh Hà Nam trong giai đoạn 2011-2020.

Luận văn là tài liệu khoa học quý giá giúp các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý và nhà nghiên cứu tiếp tục khai phóng các giá trị văn hóa truyền thống, phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới và phát triển bền vững quê hương Hà Nam.