Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN PHÁT TRIÊN NĂNG LỰC TỰ HOC CUA HQC SINH TRUNG HỌC PHO THONG 1. Tổng quan về vấn để nghiên cứu Củng với sự phát triển như vũ bão của CNTT vả truyền thông, việc tự học qua mạng, qua hệ thống e ~ learning và các e = book đang được phô biến rộng rãi. Người học có thể học bắt cứ lúc nào, bắt kì đầu và bắt kì ai. Qua đỏ, mỗi cá nhân có.
thé ty lam giảu thêm nguồn trỉ thức cho chỉnh bản thân. Phát hiện, bồi dưỡng nhân. tải cho đất nước là một khâu vô cũng quan trọng và nhiệm vụ này thường được giao cho các trường THPT chuyên. Vi vậy, chúng ta phải bồi dưỡng kĩ năng tự học và tự khám phá trì thức cho HS ở các trường THPT này.
Các khóa luận, luận văn về website, e book,v. trước đây đều có đặc điểm chung là nghiên cứu về việc nâng cao hiệu quả tự học, tự nghiên cứu kiến thức của HS. Tuy nhiên các để tài này còn một số tổn tại sau: ~ Website đòi hỏi phải truy cập Internet mới sử dụng được. ~ Các e ~ book chưa chủ ý tới phẩn cũng cố, kiểm tra và đánh giá sau mỗi bài.
~ Một số khóa luận, luận văn nghiên cứu về phản ứng oxi hóa = khử nhưng chưa thiết kế, xây dựng học liệu điện tử về phản ứng oxi hỏa ~ khử với hệ thống lý: thuyết, bài tập và tư liệu bố sung đa dạng, phong phú, chú ý phần củng có, kiểm tra, đánh giá kiến thức cho HS. Trên cơ sở đó, chúng tôi đã tiến hành xây dựng đề tài: “Xây đựng học liệu điện tử về phản ứng oxi hóa - khứ nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh: trung học phổ thông” 1. Định hướng đổi mới chương trình giáo dục phỗ thông trong giai đoạn mới |17| Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cân năng lực của người học, nghĩa là tử bó chỗ. quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học.
Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công chuyển từ PPDH theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng. kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 ban hành kẻm theo. Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng chính phủ ghi rõ “Tiếp tục.
đổi mới PPDH và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và NI.TH của người học” Chương trình giáo đục định hướng năng lực nay còn gọi là day hoc định hướng kết quả đầu ra được bản đến nhiễu từ những năm 90 cua thé ki XX va ngày. nay trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Giáo dục định hướng năng lực nhằm phát triển năng lực cho người học. Cơ sở lý luận về tự học 1.
Quan niệm về tự học [20] “Theo từ điển Giáo due hoc (NXB Tir dién Bach khoa): “7z hoc la qué trinh tự mình hoạt động lĩnh hội tr thức khoa học và rên luyện kỹ năng thực hành" Tu hoe thể hiện bằng cách tự đọc tải liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tảng, triển lãm, xem phim, kịch, giao tiếp với những người có học, với các chuyên gia và những người hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau. Người tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều. cần thiết, biết viết tóm tắt, biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện. Đối với HS, tự học còn thẻ hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, tham gia các câu lạc bộ và các hoạt động ngoại khóa khác.
Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao. Các hình thức tự học [7] “Tự học có thé diễn ra theo 3 hình thức: ~ Tự học không có hướng dẫn: người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận dụng các kiến thức trong đó. ~ Tự học có hướng dẫn: có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác. ~ Tự học có hưởng dẫn trực tiếp: có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết trong ngày, trong tuân, được thẫy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học.
Chu trình tự học của học sinh [19] “Chu trình tự học của HS là một chu trình 3 thời: ~ Tự nghiên cứu. ~ Tự thể hiện. ~ Tự kiểm tra, tự điều chính. a) Tự nghiên cửu @) (2) Tự kiêm tra, “Tự thể hiện tự điều chỉnh Tình 1.
Chu trình tự học “Thời (1): Tự nghiên cứu. Người học tự tìm tỏi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tỉnh chất cá nhân. Thời (2): Tự thê hiện. Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huồng, vấn đê, tự trình bảy, bảo vệ kiến thức hay sản.
phâm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đối, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của công đồng lớp học. Thời (3): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh. Sau khi thầy kết luận, người học tự. kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đâu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (trì thức) 1.
Vai trò của tự học [4], [7]. [23] Tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng. kiến thức đỗ sô với quỹ thời gian íL Oi ở nhà trường. Nó giúp khắc phục nghịch lí hoc van thi vô hạn mà tuôi học đường thì có hạn.
'Tự học giúp tạo ra trí thức bền vững cho mỗi người bởi lẽ nỏ là kết quả của sự. hứng thú, tìm tòi, nghiên cứu và lựa chọn. Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết 14 quả học tập cao hơn. Khi HS biết cách tự học, HS sẽ “có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tải liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chú động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”.
Tu hoc cia HS THPT con có vai trò quan trọng đối với yêu câu đổi mới giáo dục và đảo tạo, nâng cao chất lượng đảo tạo tại các trường phô thông. Đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa người học sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội trì thức khoa học. Vĩ vậy, tự học chính là con đường phát triển phủ hợp với quy luật tiền hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông. “Theo phương châm học suốt đời thì việc “tự học” lại cảng có ý nghĩa đặc biệt đối với HS THPT.
Vì nếu không có khả năng và phương pháp tự học, tự nghiên cứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn như đại học, cao đẳng. HS sẽ khó thích ứng, do đó khó có thể thu được một kết quả học tập tốt. Hơn thể nữa, nếu không có khả. năng tự học thì chúng ta không thể đáp ứng được phương châm “Học suốt đời” mà Hội đồng quốc tế về giáo dục đã dé ra vào tháng 4 năm 1996.
Nhờ có tự học và chỉ bằng con đường tự học, người học mới có thê nắm vững trí thức, thông hiểu tri thức, bỗ sung và hoàn thiện tri thức cũng như hình thành những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng. Hoạt động tự học của HS còn giáo dục tình cảm và những phẩm chất đạo đức của ban than. Noi cach khác hoạt động tự học hướng vào việc rên luyện phát triển toàn diện nhân cách HS. Vay vai trò của hoạt động tự học luôn giữ một vị trí rat quan trong trong qua trình học tập của người học.
Tự học là yếu tố quyết định chất lượng vả hiệu quả của hoạt động học tập. Vai trò tự học qua mạng và lợi ích của nó “Tự học qua mạng là hình thức của tự học mà không dùng lời nói trực tiếp để giao lưu với nhau, mà dùng các phương tiện khác đó là máy tính có kết nỗi mang Internet. Người học chủ động tìm kiếm trí thức để thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết của mình tự củng cố, tự phân tích, tự đào sâu, tự đánh giá, tự rút kinh nghiệm, v.với sự hỗ trợ của máy tính. “Trong thời đại "bùng nỗ thông tin”, mỗi người muốn thoát khỏi lạc hậu với phải có thối quen và khả năng tự học suốt đời vì không phải ai, vào bắt cứ lúc nảo, cũng có điều kiện đến trường, đến lớp để học.
Tự học hoàn toàn thì rắt khỏ, phải có một sự hướng dẫn được tô chức chu đáo. Tự học qua mang ra đời nhằm cung cấp sự hướng dẫn đó cho bắt cứ ai muốn học một chương trình nào đó hoặc xem lại, bổ sung, mớ rộng phẩn kiến thức đã học ở trường lớp. Sự hướng dẫn nảy có cấp đô chung và cấp độ cụ thể. Cấp độ chung hướng dẫn học về các mặt tư tưởng, quan điểm, phương pháp luân, những phương pháp chung nhất, phổ biến Cấp độ cụ thể hướng dẫn học môn cụ thể, từng bải học cụ thể.
Cấp độ chung soi sáng cho cấp độ cụ thê và cấp độ cụ thê minh họa, cúng cố cấp độ chung. Cả hai cấp độ hướng dẫn này khi vào học sẽ hòa quyện vào nhau, tác động, lẫn nhau để tạo nên việc tự học có hiệu quả, người học sẽ có một công cụ cơ ban dé học suốt đời. Sự hướng dẫn được coi là có hiệu quả nếu người tiếp thu thật sự chủ động khiến cho yêu cầu “được hướng dẫn” cũng sẽ giảm dẫn cho đến khi người học. có thể tự học hoàn toàn.
'Tự học qua mạng, người học không bị ràng buộc vào thời khóa biểu chung, một kể hoạch chung, có thời gian để suy nghĩ sâu sắc một vấn đề, phát hiện ra những khia cạnh xung quanh vấn đề đó và ra sức tìm tỏi học hỏi thêm. Dẫn dà, cách tự học đó trở thành thói quen, giúp người học phát triển được tư đuy độc lập, tư duy phê phán, tư duy sắng tạo.