mở đầu, thí nghiệm nghiên cứu hiện tƣợng mới, thí nghiệm củng cố luyện tập…. Nhƣ vậy, tuy có nhiều cách phân loại khác nhau nhƣng chọn cách nào chọn TNTT nào để sử dụng trong dạy học phải dựa vào mục đích, nội dung kiến thức cụ thể cũng nhƣ các PPDH đƣợc sử dụng theo ý đồ sƣ phạm của giáo viên [6]. Ưu điểm và hạn chế của thí nghiệm tự tạo sử dụng trong dạy học Vật lí ❖ Ƣu điểm: − Góp phần làm phong phú thêm các phƣơng tiện trực quan, qua đó trực quan hóa đƣợc nhiều hiện tƣợng và quá trình vật lí. − Dễ chế tạo (đối với TNTT đơn giản): vật liệu, dụng cụ và linh kiện dễ kiếm, phƣơng tiện dùng để gia công đơn giản, không cần kỹ năng phức tạp.
− Điều kiện để thực hiện thí nghiệm: không đòi hỏi khắt khe về cơ sở vật chất nhƣ mạng điện, phòng bộ môn…nên có thể tiến hành ở các trƣờng phổ thông khác nhau. − Việc bố trí và tiến hành thí nghiệm đơn giản, không tốn nhiều thời gian. − Kết quả thí nghiệm: rõ ràng, dễ quan sát, có sức hấp dẫn và kích thích hứng thú học tập của học sinh, Gần gũi với những hiện tƣợng trong đời sống hàng ngày. 15 − Dễ thao tác: lắp ráp, tháo rời các bộ phận của dụng cụ thí nghiệm.
− Dễ vận chuyển, bảo quản và an toàn trong chế tạo cũng nhƣ trong quá trình tiến hành thí nghiệm. − Phát huy tính tích cực, tự lực và rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh nhƣ: đề xuất phƣơng án thí nghiệm, bố trí thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm và xử lí kết quả thí nghiệm, thiết kế và chế tạo thí nghiệm nhằm minh họa lại kiến thức đã thu nhận. ❖ Hạn chế Bên cạnh những ƣu điểm, TNTT cũng có những hạn chế nhất định, đó là hạn chế về tính thẩm mĩ và độ bền. những hạn chế trên là do các dụng cụ thí nghiệm đƣợc gia công thủ công và bằng tay, không đƣợc sản xuất theo dây chuyền công nghệ 1.
Vai trò của việc tự tạo trong dạy học Vật lí Việc tự tạo thí nghiệm đóng vai trò quan trọng trong DHVL ở trƣờng phổ thông hiện nay. Cụ thể là: - Phát huy tính tích cực, tự lực và chủ động trong hoạt động nhận thức của học sinh. Tự tạo thí nghiệm trong dạy học thƣờng hƣớng đến việc sử dụng vào hỗ trợ tổ chức dạy học thông qua các PPDH tích cực nhằm tích cực hóa hoạt động thí nghiệm của học sinh. Bên cạnh đó, khi tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh với việc gia công, lắp ráp và tiến hành thí nghiệm không những tạo đƣợc động cơ, hứng thú say mê tìm tòi, nghiên cứu mà còn tạo cơ hội để học sinh tự giác, chủ động tham gia xây dựng kiến thức mới.
đây chính là các yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực trong học tập cũng nhƣ trong hoạt động nhận thức của học sinh. Vì vậy việc tổ chức cho học sinh tự tạo thí nghiệm có vai trò quan trọng trong phát huy tính tích cực, tự lực và chủ động trong hoạt động nhận thức của học sinh. - Góp phần làm phong phú thí nghiệm đƣợc sử dụng trong dạy học. viêc nghiên cứu tự tạo thí nghiệm không chỉ nhằm bổ sung những thí nghiệm còn 16 thiếu, chƣa đƣợc trang bị mà còn có vai trò tạo tính đa phƣơng án cho một nội dung thí nghiệm hoặc một phƣơng án có thể sử dụng vào dạy học nhiều bài thí nghiệm khác nhau.
Do đó, với vai trò tạo ra sự phong phú về phƣơng án thí nghiệm sẽ giúp giáo viên thuận tiện cho việc lựa chọn và sử dụng thí nghiệm vào tổ chức hoạt động nhận thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh trong dạy học ở lớp cũng nhƣ tổ chức tự học ở nhà. - Phối hợp với thí nghiệm giáo khoa trong việc trực quan hóa hiện tƣợng, quá trình vật lí trong dạy học. Thí nghiệm giáo khoa đƣợc trang cấp cho các cơ sở giáo dục thƣờng là các bộ thí nghiệm tối thiểu, phục vụ dạy học các nội dung kiến thức trừu tƣợng, phức tạp. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hiện tƣợng, quá trình vật lí ở THCS và khi học sinh tự học ở nhà.
Khi tự tạo thí nghiệm, chúng ta thƣờng cố gắng đơn giản hóa hiện tƣợng, gạt bỏ những chi tiết, yếu tố không cần thiết, làm nổi bật những chi tiết cần thiết cho hoạt động nhận thức nhằm giúp học sinh hiểu sâu sắc bản chất các hiện tƣợng quá trình đó.do đó, tự tạo thí nghiệm có vai trò tích cực trong việc hỗ trợ cho hoạt động nhận thức của học sinh nói chung và trong tự học nói riêng. - Hỗ trợ tổ chức dạy học ở nhiều khâu và nhiều hình thức khác nhau. Tự tạo thí nghiệm trong DHVL nhằm tạo ra những thiết bị thí nghiệm có nhiều ƣu điểm nổi trội nêu trên, do đó hoạt động này có vai trò rất lớn trong việc sử dụng TNTT hỗ trợ cho quá trình dạy học. TNTT có thể đƣợc sử dụng để hỗ trợ nhiều khâu của tiến trình dạy học nhƣ: mở đầu, nêu vấn đề vào bài, hình thành kiến thức mới, ôn tập, củng cố vận dụng hoặc luyện tập, vận dụng kiến thức mới, thực hành thí nghiệm, tự học ở nhà… - Rèn luyện kỹ năng thực hành thí nghiệm và phát triển tƣ duy sáng tạo cho cả giáo viên và học sinh.
Hoạt động tự tạo thí nghiệm trong DHVL đòi hỏi giáo viên và học sinh phải thực hiện nhiều hoạt động, thao tác, trong nhiều lần và qua nhiều khâu liên quan đến kỹ năng thực hành thí nghiệm. Do đó, tự tạo thí nghiệm có vai trò vừa là phƣơng tiện, vừa là biện pháp rèn luyện năng lực 17 vận dụng kiến thức vào thực tiễn và rèn luyện kỹ năng thực hành cho cả giáo viên và học sinh. Bên cạnh đó, việc tự tạo không chỉ dựa trên những phƣơng án thí nghiệm sẵn có mà có thể tự tìm ra những phƣơng án thí nghiệm mới, vì vậy nó đáng vai trò phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh. - Tạo ra phƣơng tiện hỗ trợ quan trọng cho tổ chức dạy học nhóm theo hƣớng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh.
Nhƣ đã đề cập, TNVL nói chung và TNTT nói riêng là những phƣơng tiện hỗ trợ hiệu quả nhất cho tổ chức DHVL theo nhóm ở trƣờng phổ thông. Do đó, có thể thấy tự tạo thí nghiệm đóng vai trò tiên quyết cho việc vận dụng hình thức tổ chức dạy học nhóm với sự hỗ trợ của TNTT. Tóm lại, tự tạo thí nghiệm có vai trò quan trọng trong DHVL, đặc biệt nó còn có vai trò trong việc vừa tạo ra phƣơng tiện hỗ trợ, vừa là một hoạt động quan trọng để tổ chức dạy học nhóm nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong DHVL ở trƣờng phổ thông hiện nay. Yêu cầu khai thác, tự tạo thí nghiệm trong dạy học Vật lí Theo tác giả Nguyễn Hoàng Anh trình bày trong luận án tiến sĩ “xây dựng và sử dụng thí nghiệm tự tạo theo hƣớng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học phần " cơ học" Vật lí lớp 12 nâng cao” [4] đã đƣa ra yêu cầu khai thác, tự tạo thí nghiệm trong dạy học Vật lí nhƣ: các TNTT đƣợc xây dựng và sử dụng trong DHVL phải đảm bảo đƣợc 4 yêu cầu sau: về mặt khoa học; về mặt sƣ phạm; về mặt thẩm mỹ và về mặt kinh tế.
❖ Về mặt khoa học: − Các TNTT đƣợc xây dựng phải đảm bảo khi tiến hành TN phải thành công, tạo ra hiện tƣợng rõ ràng, đúng với bản chất vật lí và điều khiển đƣợc các yếu tố tác động; − Quá trình thiết kế, chế tạo cần ứng dụng các thành tựu mới trong khoa học; Có cấu tạo gọn nhẹ, thuận tiện trong quá trình sử dụng (tháo lắp, bố trí và tiến hành TN); Đảm bảo an toàn trong sử dụng, dễ sửa chữa, bảo quản và vận chuyển. 18 ❖ Về mặt sƣ phạm: − TNTT có thể đƣợc sử dụng ở các giai đoạn khác nhau của QTDH nhƣ: sử dụng trong đề xuất vấn đề nghiên cứu, sử dụng trong hình thành kiến thức mới, và sử dụng trong củng cố, vận dụng kiến thức. − Kết quả của TNTT phải gắn liền với nội dung bài học, xuất hiện đúng lúc trong tiến trình DH, đồng thời kết quả TN phải đƣợc sử dụng cho mục đích DH một cách hợp lí, logic và không gƣợng ép. TN phải ngắn gọn, hợp lí và cho kết quả ngay nhằm đảm bảo về mặt thời gian của tiết học.
− Tạo điều kiện cho HS phát huy TTC nhận thức trong và ngoài giờ học thông qua việc đề xuất và lựa chọn phƣơng án TN, thiết kế và chế tạo dụng cụ TN nhằm kiểm chứng hoặc minh họa lại kiến thức đã thu nhận? ❖ Về mặt thẩm mỹ Các dụng cụ TNTT phải có kích thƣớc đủ lớn, đảm bảo cho cả lớp quan sát nhằm giúp cho HS dễ theo dõi diễn biến của TN để có thể rút ra đƣợc những kết luận cần thiết. TN phải có màu sắc thích hợp và hình dáng đẹp đẽ lôi cuốn sự chú ý của HS, đặc biệt là cần làm nổi bật bộ phận cần quan sát. ❖ Về mặt kinh tế Các TNTT đƣợc xây dựng phải đảm bảo giá thành không cao nhờ sử dụng các nguyên vật liệu, dụng cụ và linh kiện có sẵn và dễ tìm trong cuộc sống hằng ngày. Các mức độ khai thác, tự tạo thí nghiệm trong dạy học Vật lí Trên cơ sở vai trò và yêu cầu đã nêu, chúng tôi xác định các mức độ khai thác, tự tạo TN trong dạy học vật lí từ thấp đến cao nhƣ sau: ❖ Mức độ 1: khai thác các phƣơng án TN sẵn có (đã đƣợc thiết kế, giới thiệu ở sách giáo khoa hoặc các tài liệu tham khảo nhƣng chƣa đƣợc chế tạo) và tự tạo TN.
trong thực tiễn dạy học, giáo viên có thể khai thác các phƣơng án TN đƣợc trình bày ở các tài liệu tham khảo, trong Internet và ngay cả trong sách giáo khoa để tự tạo thí nghiệm phục vụ dạy học. Trên cơ sở các phƣơng án TN đó, tiến hành tìm kiếm vật liệu phù hợp để gia công, lắp ráp nên TN. hầu 19 hết các phƣơng án tuy đã đƣợc thiết kế nhƣng đều chƣa có các thông số kỹ thuật cụ thể về linh kiện, thiết bị cần sử dụng nên giáo viên và học sinh thƣờng gặp khó khăn ở khâu tìm kiếm vật liệu và gia công, lắp ráp TN. Do đó, đòi hỏi ngƣời tự tạo thí nghiệm phải tìm tòi nghiên cứu, tiến hành nhiều lần để thử sai và điều chỉnh.