CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG Lực NHẬN THỨC HOÁ HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vân đê 1. Các nghiên cứu trên thế giới Ý tưởng và mô hình lớp học đảo ngược hình thành tại Mỹ từ những năm 1990. Với hình thức đào tạo online, tài liệu học tập được giảng viên cung cấp trên hệ thống E-Learning.
Người học sẽ học tập ở hai không gian trong và ngoài phạm vi lớp học làm tăng thời lượng và hiệu quả học tập. Mô hình này nhận được sự quan tâm cùa nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới, đặc biệt ở bậc đại học vì nhũng lợi ích mà nó mang lại [38], [39]. Một nghiên cứu gần đây nhất của nhóm tác giả gồm Means, Toyama, Murphy, Bakia, Jones (2010) đã tổng hợp 46 nghiên cúu thực nghiệm ở các trường phô thông và đại học tại Mỹ và kết luận mô hình lóp học đảo ngược mang lại hiệu quả, đã tạo ra được môi trường thực học (deep learning), học có ý nghĩa (meaningful learning) cũng như phát triển tư duy phê phán và hình thức học cấp cao, tạo môi trường làm việc độc lập và tự kiếm soát việc học. Lớp học đảo ngược là một phương thức thiết kế dạy học theo mô hình kết hợp [44] , [45] đã và đang phát triền tại nhiều quốc gia.
Khái niệm này nghe có vẻ mới, nhưng thực chất nó là một mô hình lớp học đảo ngược so với lớp học truyền thống. Phương thức này được hai tác giả Barbara Walvoord và Virginia Johnson Anderson đề xuất trong quyển sách “Effective Reading: a tool for learning and assessment” xuất bản năm 1998. Trong quyển sách này, hai tác giả đã đề xuất cách đánh giá việc học sao cho đem lại hiệu quả học tập và kích thích việc học chú động. Dựa trên cơ sở đó họ đã đề xuất sử dụng các hình thức như đọc và tóm tắt tài liệu về bài học mới, trả lời câu hởi, hoặc hoàn thành phiếu bài tập để kiểm tra sự hiểu của người học.Và phương thức này được phát triển thành “ lớp học nghịch đảo” được ứng dụng trong dạy các môn học khác nhau đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhân văn tại các trường phô thông và đại học ở Mỹ [36].
Theo các tác giả Barbara và Anderson (1998), McDaniel và Caverly (2010), trái với lớp học truyền thống, thời gian lên lớp theo mô hình lớp học này dành cho người học xử lí thông tin kiến thức kết hợp với sự hỗ trợ từ thầy cô và bạn bè. Theo các tác giả này, đặc điểm quan trọng của mô hình này là sự tăng cường tiếp xúc và tương tác giữa thầy và trò, giữa trò với nhau tạo ra cơ hội cá nhân hoá trong giáo dục chứ không phải sự thay thế người thầy bằng băng ghi hình [37]. Với cách học tích cực và kết hợp với sự hỗ trợ của công nghệ, mô hình học này nhanh chóng thu hút các nhà giáo dục Mỹ và một số quốc gia khác. Các nghiên cún ở Việt Nam Ở Việt Nam, các nghiên cứu về mô hình lớp học đảo ngược mới được biết đến thời gian gần đây, chủ yếu trên các tạp chí, trang tin cùa cơ sở đào tạo.
Qua một số nghiên cứu khoa học đã công bố như Nguyễn Chính [11], Nguyễn Thế Dũng [14], Nguyền Thị Phương Liên, Lưu Anh Tuấn [23], Phạm Anh Đới (2014)[ 15], Trương Thị Phương Chi (2017)[ 10], Nguyễn Hoài Nam, Vũ Thái Giang (2017)[26], Lê Thị Phượng, Bùi Phương Anh (2017) [28], ., mô hình này đánh giá hồ trợ tốt giúp nâng cao tính tự chú, khả năng tìm tòi kiến thức, làm chú kiến thức của người học, phát triển theo hướng lấy người học làm trung tâm, cải thiện khả năng sử dụng CNTT, khả năng giải quyết vấn đề của học sinh. Tác giả Nguyễn Thế Dũng [14] đà đưa ra quy trình tổ chức DH theo mô hình LHĐN trong B-learning với các tình huống học tập minh họa. Theo tác giả, thay vì cung cấp nội dung, nên tận dụng các buồi học trên lớp hay thông qua nhừng cuộc họp trực tuyến để tổ chức giao tiếp giữa các thành viên trong nhóm cùng thực hiện dự án. Bước đầu đã cho thấy LHĐN được triển khai trên B-learning sẽ nâng cao tính tương tác cho người học.
Tác giả Nguyễn Quốc Vũ và Lê Thị Minh Thanh [34] đã công bố kết quả nghiên cứu của mình về khả năng ứng dụng mô hình LHĐN trong dạy học chuyên đề kĩ thuật số: sv phải tự học, tự nghiên cứu video bài giảng của GV và chuẩn bị 7 phần thực hành trên lớp. Tác giả cho biết kĩ năng(KN) cần có cùa sinh viên trong “lớp học đảo ngược” bao gồm: kĩ năng sử dụng CNTT, kĩ năng tìm kiếm kiến thức trên mạng, kĩ năng TH và cá nhân hóa việc học tập của bản thân. Mô hình LHĐN không chỉ tạo hứng thú học tập, nâng cao kết quả học tập của sinh viên mà còn giúp phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực phát hiện - giải quyết vấn đề và khả năng sử dụng CNTT. Tuy các nghiên cứu mô hình LHĐN đã được vận dụng nhưng chủ yếu mới áp dụng trong các trường đại học và ở bậc sau đại học do đòi hỏi tính TH cao hon.
Còn với HS THPT thì còn ít hoặc chưa vận dụng mô hình LHĐN này. Mặc dù hiện nay E-learning phát triển mạnh mể nhung trong điều kiện giáo dục Việt Nam vẫn còn một số bất cập thì mô hình LHĐN đã và đang chứng tỏ sự phù họp trong việc tạo ra môi trường học tập tốt. LHĐN chính là mô hình được chúng tôi quan tâm và triển khai trong luận văn này. Tuy nhiên, các nghiên cứu về vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học thường vận dụng trong dạy học ở trường Đại học và nghiên cứu năng lực tự học, chưa đề cậpnhiềuđến các năng lực khác.
Vì thế tôi nghiên cứu đề tài theo hướng đề xuất mô hình lớp học đảo ngược phát triến năng lực nhận thức hoá học cho học sinh. Đối với mồn hoá học, năng lực đặc thù bao gồm năng lực nhận thức hoá học, năng lực tìm hiều thế giới tự nhiên dưới góc độ hoá học, năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng đã học [8]. Năm học 2022-2023 bắt đầu áp dụng giảng dạy môn hoá học theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 với lóp 10. Vì là giai đoạn mới triển khai nên chưa nhiều công trình nghiên cứu về năng lực nhận thức hoá học.
Trước đó, chưa có nhiều bài báo nghiên cứu về năng lực nhận thức hoá học. Tác giả Vũ Minh Trang với đề tài “Phát triển năng lực nhận thức hoả học cho học sinh thông qua mô hình dạy học phân hoá. Tác giả đã hệ thống cơ sở lí thuyết, đề xuất các nguyên tắc và quy trình thiết kế kế hoạch dạy học dựa trên quan điểm dạy học phân hoá nhằm phát triển năng lực nhận thức hoá học cho học sinh. Đề tài đã đưa ra được 10 tiêu chí đánh giá cùng 4 mức độ đế đánh giá năng lực nhận thức hoá học [31].
Tác giả Nguyễn Thị Diễm Hằng, Lê Thanh Bình với đề tài “Thiết kế bài tập tiếp cận Pisa nhằm 8 phát triển năng lực hoá học cho học sinh trung học phô thông trong dạy học chuyên đề Phân bón hoả học-Hoả học lỉ ” năm 2023. Tác giả đã phân tích biểu hiện và các mức độ biểu hiện của năng lực hoá học trong đó có nàng lực nhận thức hoá học tuy nhiên chưa có tiêu chí đánh giá năng lực [18]. Tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thị Huyền Trang, Nguyễn Thị Vân Anh với đề tài “Nghiên cứu đảnh giá năng lực nhận thức hoá học của học sinh trung học phố thông tại Việt Nam” năm 2019. Tác giả đã đưa ra các công cụ đánh giá năng lực nhận thức hoá học, tuy nhiên các biện pháp phát triển năng lực chưa được phân tích cụ thề [17].
Nhìn chung các đề tài nghiên cún đã đưa ra tiêu chí đánh giá năng lực nhận thức hoá học của học sinh tuy nhiên các biện pháp phát triến năng lực nhận thức hoá học thì chưa được đề cập nhiều. Vì vậy, tôi nghiên cứu vận dụng mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực nhận thức hoá học cho học sinh với phiếư đánh giá tiêu chí dễ quan sát năng lực nhận thức hoá học của học sinh. Năngơ lực • thức • nhận • hoá học 1,2,1, Nấng lực và cấu trúc năng lực a. Khái niệm về năng lực Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thế giới (OECD): “NL là khả năng cá nhân đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức họp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể”.
Theo Từ điển tiếng Việt: “NL là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” Theo tác giả Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier (2014): “Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức họp, là điểm hội tụ củanhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức” [2]. Theo tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THPT hạng 11 của trường Đại Học Sư phạm Hà Nội [30]: Năng lực là khả năng làm chủ nhũng hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra cùa cuộc sống. Năng lực được xem là khả năng thực hiện các hành động của một cá nhân 9 trên cơ sở của sự vận dụng các kiên thức, kĩ năng đã học và sự tích lũy kinh nghiệm đã trải qua.
Theo Chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng họp các kiến thức, kì năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Trong nghiên cúu của mình, chúng tôi sử dụng khái niệm năng lực theo tài liệu chương trình giáo dục phố thông mới năm 2018. Như vậy kiến thức, kĩ năng là nền tảng của năng lực.
Nhung nếu không huy động được kiến thức, kĩ năng đế thực hiện thành công một hành động trong bối cảnh cụ thể thì năng lực vẫn chua được hình thành.