Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Một số biện pháp sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học chủ đề “Các hình phẳng trong thực tiễn” nhằm rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 6. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CHUÔNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỀN CỦA VẮN ĐÈ NGHIÊN cứu 4 1.
Co’ sỏ’ lý luận 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Theo bài báo “Case Studies and the Flipped Classroom, Journal of College Science Teaching” [24] đưa ra mối quan tâm làm sao dạy cho học sinh phát triển kỹ năng tư duy phê phán, thời gian chuẩn bị cho việc triến khai lớp học như thế nào? Và sự hợp tác của học sinh cũng như việc đảm bảo nội dung học tập được đưa ra thảo luận và đưa ra được những un nhược điểm của mô hinh học tập này như giúp cho giáo viên hiểu rõ những khó khăn, thực lực của từng học sinh. Trong bài báo “Applying Inverted Classroom to Software Engineering Education” [25] đã triển khai ứng dụng lóp học đảo ngược và đào tạo công nghệ phần mềm, nghiên cứu cũng cho thấy thu được kết quả khả quan về kết quả học tập cũng như thái độ tích cực của người học so với mô hình dạy học truyền thống, đồng thời tác giả cũng đưa ra các thách thức cho việc xây dựng các bài giảng được ghi hình sao cho học sinh có thể tăng cường hơn nữa các hoạt động ở lớp.
Flipped Classroom thành công ở Mỹ: Theo cuộc khảo sát của Sophia Learning và Flipped Learning Network vào tháng 5, đã có 78% giáo viên ở Mỹ áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong giảng dạy vào năm 2014, tăng từ chỉ 48% vào năm 2012. Do đó, nhiều cơ sở giáo dục ở Mỹ, đặc biệt là ở bậc trung học và đại học, đã áp dụng mô hình Flipped Classroom trong quá trình giảng dạy. [31] Bên cạnh đó, việc tự học cũng là một trong những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Vào năm 1920 tại Mỹ, Helen Pankhurst đà nghiên cứu và đề xuất một kế hoạch giáo dục mới.
Trong đó, giáo viên có vai trò chỉ định nhiệm vụ và hướng dẫn cho học sinh, còn học sinh tự quyết định kế hoạch thực hiện. Học sinh sẽ tự thực hiện các hoạt động học tập từ các phòng thí nghiệm và thực hành bộ môn, và được kiểm soát qua việc sử dụng phiếu học tập. Theo Luttenberger, học sinh được xem như mặt trời và mọi phương tiện giáo dục xung quanh như ánh sáng từ mặt trời. Òng cũng đề xuất khẩu hiệu “Nói ít hơn, không phải là dạy học, mà chú trọng tố chức hoạt động của học sinh” [27].
Trong đó, tác giả cũng nhấn mạnh vai trò của phương pháp dạy học tích cực, ở đó giáo viên sẽ là người khơi gợi sự chú ý, kích thích, thúc đẩy học sinh hoạt động. 5 Đây chính là cơ sở để đưa ra những biện pháp bồi dưỡng kỹ năng tự học cho học sinh. Theo tác giả Altemueller, L. (2017), giáo viên không chỉ là người “dạy cho học sinh cách tìm hiểu chân lý”, mà cần tăng cường tổ chức hoạt động tự học và tự nghiên cứu, để biến quá trình dạy học trở thành quá trình tự học.
Makiggerchi cho rằng người giáo viên sẽ là cố vấn giúp học sinh khai thác, khám phá và tìm hiểu những nội dung trong sách và tài liệu. Tác giả nhấn mạnh: “nhà giáo trước hết không phải là người cung cấp thông tin mà là người hướng dẫn đắc lực cho sinh viên tự mình học tập tích cực.” [31] Nhà giáo dục I.Kharlamov cũng đã nói “Trong hệ thống công tác dạy học phải áp dụng rộng rãi những phương pháp và thủ thuật hiệu nghiệm nhất để tổ chức việc học tập của học sinh, nhằm kích thích và phát triển của các em tính tích cực nhận thức” và “Học sinh sẽ thông hiểu và ghi nhớ nhừng cái gì đã trải qua hoạt động nhận thức của bản thân bằng cách này hay cách khác”. Ở Việt Nam Ó trong nước, cũng có nhiều kết quả nghiên cứu nói về mô hình dạy học này, như: Tác giả Nguyễn Văn Lợi (2014) đã trình bày cơ sờ lý luận và nghiên cứu về mô hình dạy học “lớp học đảo ngược”. Ồng đà phân tích các lợi ích và những điểm cần lưu ý khi sử dụng phương pháp này [9].
Tác giả lưu tâm nhiều đến các bước ghi hình phục vụ cho lớp học đảo ngược. Tác giả Nguyễn Thế Dũng (2015) [6] trong nghiên cứu của mình cũng chỉ ra rằng mô hình lớp học đảo ngược có khả năng ứng dụng cao trong dạy học, tuy nhiên nó còn tồn tại nhiều khó khàn và thách thức. Tại Trường Đại học FPT mô hình lớp học đảo ngược đã được áp dụng và mang lại thành công. Thông qua việc triến khai mô hình này, số lượng sinh viên thi đỗ thực hành đà tăng đáng kể từ 30% lên 53%.
Tuy nhiên, đối với bậc phô thông, mô hình này vẫn chưa được phố biến rộng rãi. Có một lý do chính là chưa có cuộc tập huấn dành cho giáo viên phổ thông để triển khai phương pháp này. [2] Đã có nhiều tác giả nghiên cứu sâu về cách nâng cao hiệu quả hoạt động tự học trong giáo dục phổ thông. Nhờ đó, chúng ta thấy rõ rằng tự học có ảnh hưởng 6 quan trọng đên quá trình học của học sinh.
Trong xã hội hiện đại, sự tự chủ và khả năng tụ học đóng vai trò quan trọng trong việc xác định xu huớng học tập và thành công của mỗi nguời. Mặc dù chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể về việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy môn Toán để phát triển kỹ năng tự học cho học sinh THCS, nhưng các công trình nghiên cứu đà có cung cấp cơ sở và tài liệu đế thực hiện luận văn nghiên cứu về chủ đề này. Những tài liệu trên có thể là nguồn tham kháo quan trọng đế xem xét và phân tích hiệu quả của mô hình này trong việc tăng cường khả năng tự học cho học sinh THCS. Cơ sở lý luận về mô hình lớp học đảo ngược ỉ.
Mô hình lớp học đảo ngược Theo Strayer (2012): “Mô hình lớp học đảo ngược (Flipped Classroom) là một hình thức dạy học kết họp, đang được sử dụng và phát triển tại nhiều quốc gia trên thế giới. Mô hình này có cách tố chức dạy học khác với lóp học truyền thống”. [26] Lóp học đảo ngược là tất cả các hoạt động dạy học được thực hiện “đảo ngược” so với thông thường. Sự “đảo ngược” ở đây biểu hiện là sự thay đổi với các dụng ý và chiến lược sư phạm thể hiện ở cách triển khai các nội dung, mục tiêu dạy học và các hoạt động dạy học khác với cách truyền thống trước đây của người dạy và người học.
Theo Flipped Learning Network: “Mô hình lớp học đảo ngược là một phương pháp giảng dạy mà việc dạy trực tiếp chuyển từ học nhóm sang học cá nhân. Nhờ đó, không gian học trở nên tràn đầy năng động, tương tác, giúp học sinh áp dụng các khái niệm và tham gia một cách sáng tạo với các vấn đề học tập ”. [26] ~ Trong lớp học đảo ngược, giáo viên sè thúc đây học sinh ứng dụng khái niệm học vào thực tế và tham gia vào các hoạt động sáng tạo trong các chủ đề. Đồng thời, mô hình này còn tập trung vào 4 trụ cột chính được biểu thị bằng các chữ cái đầu tiên trong thuật ngữ F-L-I-P [26].
Các đặc điểm của 4 chữ cái này có thể mô tả như sau: F - Flexible Enviroment - Môi trường linh hoạt: Lóp học đảo ngược cho phép sử dụng nhiều phương pháp học tập khác nhau. Giáo viên thường điều chỉnh không gian học tập trong lóp để hỗ trợ học sinh làm việc nhóm hoặc cá nhân. Học sinh cỏ tự do chọn không gian đế trao đối, thảo luận và học tập. Đánh 7 giá và tự đánh giá giúp học sinh và giáo viên hiếu rõ vấn đề để điều chỉnh và khắc phục kịp thời.
L - Learning Culture - Văn hoá học tập: Trong mô hình lóp học đảo ngược, học sinh được đặt vào trung tâm và thời gian học trên lớp không chỉ đơn thuần là việc giảng dạy mà còn đề khám phá sâu hơn về chủ đề học. Điều này thúc đẩy học sinh tích cực tham gia xây dựng kiến thức và đánh giá việc học của minh một cách ý nghĩa. I - Intentional Content - Nội dung có chú ý: Giáo viên thường định rõ cách giúp học sinh tiếp cận bài học một cách tự tìm hiếu. Thông qua việc thiết kế nội dung bài học theo hướng cá nhân hoá hoặc theo nhóm, giáo viên giúp tăng cường hiệu quả học tập cùa học sinh.
p - Professional Education - Chuyên gia giáo dục: Trong mô hình lóp học đảo ngược, giáo viên không chỉ đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, mà còn đóng vai trò là chuyên gia về tri thức và tâm lý học. Trong suốt thời gian dạy, giáo viên không ngừng quan sát và cung cấp cho học sinh thông tin về kiến thức, kỹ năng, thái độ và các chính sách liên quan đến kiểm tra và đánh giá. Đặc điêm của mô hình lớp học đảo ngược Theo [13], trong mô hình lớp học đảo ngược, hoạt động truyền thống "Học ở lóp, làm bài tập ờ nhà" được thay thế bằng các hoạt động tự học ngoài trường, bao gồm xem video bài giảng, học trực tuyến và tìm hiếu thông qua Internet. Khi đến lớp, học sinh sẽ tham gia làm bài tập, trao đổi và chia sẻ nội dung bài học và giải quyết các vấn đề do giáo viên đặt ra.
Học sinh cần tìm hiểu bài giảng trước đó bàng cách đọc tài liệu, tóm tắt, nghe giảng qua các tài liệu hỗ trợ như video và bản trình chiếu, cũng như tìm và sử dụng các tài liệu đế nghiên cứu bài học. Bài giảng của giáo viên được gửi trước cho học sinh và trở thành bài tập đế học sinh chuân bị trước khi lên lớp. Thời gian trên lóp được sử dụng cho các hoạt động định hướng của giáo viên, láng nghe báo cáo của học sinh, trao đối và chia sẻ, trước khi giáo viên củng cố và tổng kết nội dung bài học. Trong mô hình lớp học truyền thống, giáo viên không dành nhiều thời gian cho việc giải đáp thác mắc của học sinh, chủ yếu dành thời gian để truyền thụ những kiến thức trong bài học, tổ chức cho học sinh thực hành giải bài tập, cuối tiết học có sự hệ thống lại nội dung chính cần ghi nhớ.