CHƯƠNG 1. Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN 1. Cơ sở lí luận 1,1,1, Tổng quan sơ lược một số nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. về năng lực tự học và kĩ năng tự học Trong lịch sử giáo dục, tự học là một khái niệm được đề cập rất sớm thường được sử dụng với ý nghĩa là người học tự giác, chủ động thực hiện các hoạt động học tập của mình.
[13] Trong cuốn “Tự học - Lí luận và thực tiễn”, tác giả Sandra Kerka (1999) cho rằng bản chất cùa tự học không có một định nghĩa duy nhất. Cho dù nghiên cứu hay thực hành, học cá nhân hay học nhóm, mồi một cá nhân người học có phương pháp, có năng lực riêng biệt - chính sự riêng biệt ấy cho thấy năng lực tự học và việc tự học cùa mỗi cá nhân là khác nhau. Theo ông đây không hăn là một phương pháp trong dạy học mà là một mục tiêu quan trọng cùa giáo dục. Ý tưởng về tự chủ cúa người học không phải là mới, ông còn gọi thuật ngữ này với cách gọi khác như: Cá nhân hóa, người học độc lập.
Điều này có ý nghĩa là người học phải có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm và ra quyết định đối với việc học của mình.Tronge với công trình “Nhừng phâm chất cua người GV hiệu quả” đã nhấn mạnh đến việc GV tạo lập một môi trường học tập hiệu quả cho HS, trong đó có việc khuyến khích và phát triển năng lực tự học đáp ứng những nhu cầu cá nhân của các nhóm HS chuyên biệt trong lớp học. Ông chú trọng việc hỗ trợ các hoạt động tích cực của HS thông qua thủ thuật đặt câu hỏi và thảo luận [15]. Gần đây các nhà nghiên cứu Taylor, Candy đã tập trung mô phỏng, xác định những dấu hiệu của NLTH được bộc lộ ra ngoài. Những nghiên cứu này đà chỉ ra biếu hiện của năng lực tự học đó chính là thông qua các kĩ năng tự học.
Có thế nói, tự học là một khái niệm được ra đời rất sớm, lịch sử nghiên cứu về tự học, năng lực tự học bắt đầu muộn hơn và nó gắn liền với việc nghiên cứu người học là trung tâm của quá trình giáo dục, cho đến ngày nay vấn đề tự học vẫn được tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn nữa đặc tính của người tự học. Như vậy, qua các nghiên cứu tiêu biều của các nhà giáo dục học và tâm lý học thế giới về tự học và năng lực tự học chúng tôi nhận thấy: tự học là yếu tố quyết định cho xu hướng học tập suốt đời của mồi cá nhân trong xã hội hiện đại. Đe phát triến năng lực tự học thì việc rèn luyện các kĩ năng tự học là vô cùng cần thiết, là tiền đề đế các yếu tố như thái độ học tập và hình thành tính cách, phẩm chất của người học. Ớ Việt Nam, hoạt động tự học được chú ý từ thời phong kiến khi mà giáo dục chưa phát triến.
Đen thời kì thực dân Pháp đô hộ, giáo dục nước ta vẫn còn rất hạn ché, phương pháp dạy học vẫn chỉ là truyền thụ kiến thức một chiều, người học chỉ cần học thuộc lòng, cần ghi nhớ chính xác nội dung mà không cần độc đáo. vấn đề tự học, NLTH vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu. Từ những năm 90 của thế kỉ XX, những nghiên cứu về tự học đã được nhiều tác giả trình bày trực tiếp hoặc gián tiếp trong các công trình tâm lí học, giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn. Một số tác giả có công trình tiêu biểu là Nguyễn Cảnh Toàn, Trịnh Quốc Lập, Thái Duy Tuyên, Trần Bá Hoành,.
Theo Nguyễn Cảnh Toàn và cộng sự (1998, tr 59-60): “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tống hợp,.) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phấm chất cùa mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khố, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi,.) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”. [17] Tác giả Trương Thị Hồng Duyên, Đỗ Thị Phương Thảo Trường Đại học cần Thơ theo nghiên cứu về thực trạng tự học của học sinh Việt Nam kết luận: HS sử dụng còn hạn chế ở việc thụ động học theo những gì được giáo viên dạy và giao, chưa thê hiện sự chủ động và tích cực. Hình thức tự học của HS còn tập trung vào hình thức học cá nhân tuy đã có sự hợp tác với bạn bè trong tự học.[5] Những nội dung nghiên cứu VC tự học nâu trôn, các tác giả Việt Nam đã chung một quan điếm đó là tự học là một quá trình học tập độc lập của người học và liệt kê các dấu hiệu để nhận diện người có khả năng tự học. về mô hình lớp học đảo ngược Năm 1993, Alison King xuất bản công trình “From sage on the stage to guide on the side” (Từ nhà thông thái trên các tượng đài thành người đồng hành bên cạnh bạn).
Mặc dù chưa đưa ra khái niệm Lớp học đảo ngược (Flipped classroom) nhưng công trình của King thường được các nhà giáo dục trích dẫn như là sự thúc đẩy và cách tân cho phép dành khồng gian lớp học vào các hoạt động học tập tích cực. [32] 7 Sau nghiên cứu của Alison King (1993), Eric MaZur, một Giáo su ở Đại học Havard đã phát triển nghiên cứu tương tự vào năm 1997. Nghiên cứu trên đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của mô hình LHĐN.[30] Trong năm 2000, các tác giả Lage, Platt và Treglia xuất bản công trình “Đảo ngược lớp học - cánh cửa dẫn đến sự sáng tạo môi trường học tập trọn vẹn”, trong đó giới thiệu các nghiên cứu về lớp học đảo ngược tại các trường cao đẳng. [3] Năm 2000, mô hình LHĐN chính thức được công bố với hai nghiên cứu lớn tại Đại học Cedarville và Đại học Miami.
Trong nghiên cứu của Wesley Baker[26], ĐH Cedarville, ông đã giải thích được các mục đích của mô hình lớp học đảo ngược: - Mang đến mô hình học tập ngoài lớp học đê tăng tính thực tế của bài học. - Đưa đến quyền chủ động trong học tập cho học sinh. - Mang lại cơ hội làm việc nhóm nhiều hơn cho học sinh. - Thay đối trách nhiệm học tập từ tiếp nhận thông tin trở thành một người dẫn dắt kiến thức.
Trong những nghiên cứu từ năm 2000 Baker đã trình bày về hệ thống LHĐN: GV phải tạo ra những bài tập thảo luận sâu, bài tập nghiên cứu bài học đế đảm bảo học sinh đến lớp đã có hiểu biết ban đầu về nội dung kiến thức. Bergman Flipped Learning A Sams Flipped Classroom 2000 ft â 20ŨŨ IVÌ J. Lđyc Classroom Flip Inverted Classroom J. Platt M, Treglia 1997 Eric Mazur Peer Instruction 1993 From Sage on the Stage to Alison King Guide on the Side Sơ đô 1.
Những nghiên cứu đâu tiên vê mô hình Lớp học đảo ngược [23] 8 Đặc biệt, người có công lớn cho mô hình Flipped classroom là Salman Khan. Năm 2004, Khan bắt đầu ghi hình bài giảng cùa mình thành các video để phụ đạo cho em họ sống ở một bang khác. Những video này được đưa lên YouTube và rất được yêu thích. Mùa xuân năm 2007, Jonathan Bergmann và Aaron Sams, hai giáo viên hóa học trường THPT Woodland Park, ghi lại những bài giảng của mình và cung cấp cho HS vì nhiều lý do khác nhau đã không đến lóp một cách đày đù để theo kịp chương trình, qua đó họ đã xây dựng mô hình Flipped classroom, làm thay đổi hoàn toàn cách dạy của GV, cách học của HS.
Jonathan và Aaron đã nhận được phần thưởng của tống thống vì những thành công trong mô hình Flipped classroom.[27] Một trong số các quốc gia trên thế giới đã áp dụng thành công theo mô hình lớp học đảo ngược là Mỹ. Trong một cuộc khảo sát do Sophia Learning và Flipped Learning Network tiến hành vào tháng 5 năm 2014 cho thấy số lượng GV áp dụng mô hình Flipped Classroom trong giảng dạy ở Mỹ tăng lên 78% trong năm 2014 so với chỉ 48% vào năm 2012. Trong đó, các GV tham gia khảo sát đều đồng ý ràng mô hình này giúp cải thiện 67% thái độ học tập và điếm số cúa HS so với cách học truyền thống. Ngoài ra, 75% trong tổng số 180.000 HS trung học tham gia cuộc khảo sát Speak Up năm 2013 cũng đồng nhận định rằng Flipped Classroom mang lại hiệu quả học tập cao hơn so với học tập theo mô hình lớp học thông thường.
Với những ưu điếm trên, Flipped Classroom được nhiều cơ sở giáo dục Mỹ sử dụng trong giảng dạy, phần lớn là ở các bậc trung học và đại học.[25] Ớ Việt Nam, việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược đã có nhũng bước đi đầu tiên. Một số cơ sở giáo dục đã sử dụng mô hình Flipped Classroom trong giảng dạy như Đại học FPT, Anh ngữ Việt Mỳ VATC, Trung tâm Anh ngữ Quốc tế Apollo và các trang web giáo dục trực tuyến như Zuni.vn và Moon. Trong đó, đại học FPT đã triển khai mô hình này trên 4 lớp với 100 sinh viên. Kết quả cho thấy, số sinh viên thi đỗ thực hành tại Đại học FPT tăng từ 30% ở các lớp thông thường lên 53% khi áp dụng mô hình lớp học đảo ngược [4].
Một số nghiên cứu vận dụng lớp học đảo ngược trong dạy học đã được thực hiện. Đỗ Tùng, Hoàng Công Kiên (2020) đà đề xuất quy trình cũng như thực hiện tố chức dạy học theo mô hình này trong dạy học trực tuyến tại trường Đại học Hùng Vương. Nghiên cứu cũng chỉ rõ việc áp dụng mô hình “lớp học đảo ngược” trong dạy học trực tuyến không chỉ tạo sự chù động, hứng thú học tập 9 cho người học mà còn góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả học tập, giúp rèn luyện, phát triên tư duy cũng như các kỹ năng cho người học [20]. Vồ Thị Thiên Nga (2019) trong nghiên cứu của mình đã đề xuất quy trình dạy học dự án theo mô hình “Lóp học đảo ngược” cho sinh viên khoa Sư phạm Tin học Trường Đại học Phạm Văn Đồng [11].