Mở đầu cuộc trao đổi (xác định rõ mục tiêu và nhiệm vụ; ghi lại tóm tắt, khái quát những vấn đề sẽ phát biểu). Tiến hành trao đổi (tự trình bày, tự giới thiệu bằng văn bản về cách xử lí, cách giải quyết tình huống và các kết quả đạt đƣợc; tích cực tham gia tranh luận, bằng cách: đồng tình hay phản đối trƣớc ý kiến của bạn bè về kết quả học tập của mình bằng những lập luận và lí lẽ có căn cứ khoa học; phân tích, đánh giá khách quan và chỉ ra những ƣu, nhƣợc điểm trong cách xử lí và giải quyết tình huống của bạn, đƣa ra những khuyến nghị 12 giúp bạn bổ sung, hoàn thiện; ghi lại những ý kiến góp ý của bạn theo ý kiến của mình; tạo điều kiện thuận lợi để cho các bạn khác tham gia tranh luận. Kết thúc cuộc trao đổi (khai thác những gì đã hợp tác với bạn, sửa chữa, bổ sung và hoàn thiện sản phẩm ban đầu của mình; rút kinh nghiệm về cách học, cách xử lí tình huống của mình). + Hợp tác với các bạn trong lớp: trao đổi, tranh luận, sản phẩm ban đầu của HS đã đƣợc bổ sung, chỉnh lí và hoàn thiện.
Tuy nhiên, giữa các nhóm khác nhau, vẫn có thể có những khác biệt và mâu thuẫn cần đƣợc thảo luận trong tập thể. Ở bƣớc này, hoạt động của HS đƣợc thực hiện theo trình tự sau: Đại điện nhóm trình bày kết quả, cách xử lí tình huống của nhóm, đƣa ra những lập luận, lí lẽ để chứng minh, bảo vệ các kết quả đó trƣớc lớp. Tỏ rõ thái độ của mình trƣớc ý kiến của nhóm khác. Ghi lại những ý kiến của nhóm khác theo cách hiểu của mình.
Khai thác ý kiến của các nhóm khác để bổ sung, điều chỉnh sản phẩm của mình. Tuy nhiên, sự tranh luận giữa các nhóm HS không phải bao giờ cũng dẫn đến kết luận thống nhất. Khi đó, HS phải hợp tác với GV, ngƣời trọng tài khoa học. - Đánh giá và tự đánh giá kết quả học tập Hoạt động của GV: Kết luận, kiểm tra và đánh giá, đƣợc tiến hành nhƣ sau: + Tóm tắt từng vấn đề trong tình huống.
+ Bổ sung, chính thức hóa về tri thức mới. + Nêu câu hỏi xem HS đã hiểu các vấn đề trong tình huống chƣa. + Nhận xét, đánh giá về hoạt động của từng nhóm và từng HS. Hoạt động của HS: Hợp tác với GV, tự đánh giá, tự điều chỉnh và tiến hành theo các bƣớc sau: + So sánh, đối chiếu kết luận của GV và những ý kiến của bạn với kết quả nghiên cứu ban đầu của mình.
+ Tổng hợp thêm lí lẽ, chốt lại từng vấn đề. 13 + Tự sửa chữa, bổ sung, chỉnh lí và hoàn thiện kết quả ban đầu. + Tự rút kinh nghiệm về cách học, cách xử lí tình huống, cách giải quyết. Trong quá trình hợp tác với GV, HS cũng phải giữ vai trò chủ thể tích cực, chủ động, không phụ thuộc nghe GV giảng giải mà phải tích cực học bằng chính các hành động của mình qua các thao tác sau đây: + Chủ động hỏi GV và biết cách hỏi GV về những gì mình có nhu cầu, nhất là về cách học, cách làm.
+ Tự ghi lại ý kiến, kết luận của GV. + Học cách xử lí tình huống, cách phân tích, tổng hợp ý kiến của GV để đi đến kết luận. Những yêu cầu để phát huy tính tích cực hợp tác làm việc trong nhóm a. Phân chia nhóm học tập Tùy từng mục đích, yêu cầu và lồng ghép các ý đồ sƣ phạm của GV mà có thể chia nhóm cho phù hợp.
Theo [2], [18], [19] GV có thể chia nhóm theo một số cách dƣới đây: Chia theo danh sách lớp có sẵn: nhóm ngƣời theo số thứ tự từ nhỏ đến lớn của danh sách; nhóm ngƣời theo số thứ tự chẵn lẻ của danh sách hay nhóm ngƣời theo số thứ tự cách quãng của danh sách. Chia theo sở thích: HS tự chọn nhóm theo hƣớng dẫn của GV, do đó các em sẽ dễ làm việc với nhau vì có quan hệ tình cảm tốt, tuy nhiên không rèn đƣợc khả năng làm quen, hợp tác… Chia theo địa bàn cư trú: chia nhóm theo nơi ở của HS, nhƣ thế các em sẽ tiện đến với nhau khi cần thực hiện các nhiệm vụ học tập ở nhà. Chia theo năng lực: nhóm có HS năng lực hoàn thành xuất sắc, hoàn thành tốt, hoàn thành và chƣa hoàn thành với cách chia nhóm này sẽ làm 14 giảm đƣợc sự chênh lệch về năng lực giữa các nhóm, tạo điều kiện để các HS giúp đỡ lẫn nhau. Chia ngẫu nhiên: Đếm số thứ tự 1, 2, 3.n rồi lặp lại cho đến HS cuối cùng (n là số nhóm cần chia), phân chia sẵn vị trí ngồi cho các nhóm.
Các HS có số 1 sẽ về vị trí số 1 (nhóm 1), tiếp theo cho đến nhóm n. Với cách chia nhóm này sẽ rèn cho HS khả năng làm quen, hợp tác… Chia nhóm theo thời gian hoạt động cùng nhau: HS đƣợc phân chia thành nhóm thƣờng xuyên hay nhóm cơ động. + Nhóm thƣờng xuyên (kiểu nhóm cố định): là nhóm đƣợc tổ chức cho HS ngồi gần nhau giải quyết nhiệm vụ nhanh chóng, trong vòng một vài phút, không cần xê dịch chỗ ngồi. Kiểu nhóm này thuận tiện cho dạy học ở lớp đông HS hoặc không có điều kiện xê dịch bàn ghế.
Cách tổ chức: 2, 3 thậm chí có thể 4 HS ngồi gần nhau, ở các bàn học, trên dƣới quay mặt vào nhau. Mô hình chia nhóm theo chỗ ngồi [18] + Nhóm cơ động (di động - tạm thời): các thành viên trong nhóm hoạt động với nhau theo yêu cầu mục tiêu của GV trong một tiết học, có thể thay đổi nhóm khi có hoạt động cần thiết. Loại nhóm này cần xê dịch chỗ ngồi, gom lại thành từng nhóm, có thể 3 hoặc 4 HS hoặc đông hơn, tùy GV và hoàn cảnh lớp học. Nhóm di động có thể giải quyết nhiệm vụ phức tạp hơn, lâu hơn và có cách chia nhóm đa dạng.
Không khí lớp học đƣợc thay đổi hẳn khi chia và ghép nhóm. Có thể giữ nguyên nhóm từ đầu giờ đến cuối giờ. 15 Việc bố trí chỗ ngồi cho nhóm di động có thể theo các sơ đồ sau: Hình 1. Mô hình chia nhóm di động [18] Chia nhóm theo hình thức tổ chức hoạt động học tập của nhóm + Nhóm trà trộn (Cocktail): Tổ chức nhóm giống nhƣ tiệc cocktail.
HS đi lại tự do trong lớp tìm ngƣời thích hợp để trao đổi. Hoạt động theo nhóm này có tác dụng kích thích sự nhận thức, làm cho lớp linh động, HS có cơ hội hỏi nhiều ngƣời (mà không ngại ngùng). Nội dung làm việc của nhóm trà trộn là các hoạt động: Tự kiểm tra bảng trả lời câu hỏi (cho phép không làm đƣợc thì hỏi bạn) để kiểm tra, xác minh kết quả của mình. + Nhóm xây kim tự tháp hay ném tuyết: Sau khi tự thảo luận theo cặp, hai cặp sẽ kết hợp lại thành nhóm 4 ngƣời để hoàn thiện một hoạt động có liên quan.
Nếu cần thiết các nhóm 4 ngƣời sau đó lại đƣợc ghép tiếp để tạo thành nhóm 8 ngƣời. Về số lượng người trong một nhóm Để PPDHHT đạt hiệu quả cao thì một trong những điều GV cần chú ý đó là số lƣợng HS trong một nhóm. Bởi vì, số lƣợng HS trong một nhóm ảnh hƣởng rất lớn đến hiệu quả trong hoạt động của nhóm. Tùy theo hoạt động, nội dung hoạt động mà số ngƣời trong một nhóm có thể thay đổi: nhóm 2 ngƣời, 3 ngƣời hoặc 4 - 6 ngƣời, 8 - 10 ngƣời.
Tuy nhiên dù số lƣợng HS ít hay nhiều thì cũng phải đảm bảo cho HS nào cũng phải làm việc. Các nhóm từ 2 - 5 ngƣời là rất phổ biến, nhóm lớn hơn 4 ngƣời thì đòi hỏi phải có ngƣời đứng đầu nhóm, các nhóm nhiều hơn 7 ngƣời trở nên càng chậm chạp và hiện tƣợng "ăn theo" càng trở nên phố biến trừ khi GV có sự phân công nhiệm vụ 16 thật cụ thể cho các em. Phân công trách nhiệm trong nhóm Phân công trách nhiệm trong nhóm cần rõ ràng, cụ thể: với nhóm từ 6 ngƣời trở lên cần phân công nhóm trƣởng, thƣ ký nhóm, và các thành viên đều có nhiệm vụ rõ ràng, không ai là không có việc. Sự phân công trách nhiệm cần đƣợc thay đổi để mỗi HS có thể phát huy vai trò cá nhân và thực tập tất cả các nhiệm vụ của từng thành viên.
+ Nhóm trƣởng là ngƣời quan trọng, để lựa chọn một HS làm nhóm trƣởng thì ngƣời dạy phải biết quan sát thái độ và cách làm việc của từng HS để lựa chọn. Nhóm trƣởng là ngƣời đạo diễn và là nhạc trƣởng cho buổi thảo luận của nhóm,… họ phải thể hiện tốt vai trò của mình để kích thích các thành viên hoạt động. Lƣu ý không phải nhóm trƣởng là ngƣời quyết định thành công cho việc thảo luận của nhóm. + Thƣ ký: ghi kết quả thảo luận, hoạt động cá nhân hoạt động nhóm + Mỗi thành viên khác trong nhóm có trách nhiệm tham gia tích cực vào các hoạt động của nhóm.
+ Báo cáo kết quả hoạt động nhóm không nhất thiết chỉ là nhóm trƣởng và thƣ ký mà cũng có thể là một thành viên bất kỳ trong nhóm. Nguyên tắc vận dụng phương pháp dạy học hợp tác DHHT cần phải đảm bảo các nguyên tắc trong hợp tác nhóm. Trong DHHT, muốn hoạt động hợp tác nhóm có hiệu quả thì cần vận dụng tốt các nguyên tắc mà Jonh C. Maxwell [16], đã đƣa ra: Nguyên tắc tầm quan trọng: Nguyên tắc này trả lời cho chúng ta giá trị của làm việc (học tập) hợp tác nhóm.
Nhóm gồm nhiều ngƣời, vì thế nó có nguồn nhân lực, ý tƣởng và động lực hơn so với một cá nhân. Nhóm đƣa ra đƣợc nhiều ý tƣởng để đáp ứng yêu cầu hoặc đạt mục tiêu đề ra, do đó có nhiều giải pháp để lựa chọn cho mỗi tình huống. Nguyên tắc toàn cảnh: Các thành viên của nhóm hợp tác có thái độ nhƣ 17 thế nào với mục tiêu của nhóm? Họ có mong muốn góp phần vào sự thành công của nhóm hay không? Nguyên tắc phù hợp: Khi tất cả các thành viên hiểu đƣợc mục tiêu của nhóm và đặt đúng vị trí họ sẽ phát huy hết năng lực của họ và đây là sức mạnh của nguyên tắc phù hợp. Nguyên tắc chuỗi liên kết: Nếu trong nhóm học tập hợp tác HS nào không bắt kịp tốc độ của những thành viên khác trong nhóm; không khắc phục những điểm yếu cá nhân; không làm việc gì khác ngoài phần việc đƣợc giao.
thì HS đó chính là mắt xích yếu nhất của nhóm hợp tác.