CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC TƯƠNG TÁC 1. Thuật ngữ tương tác trong tiếng Anh là “ Interaction”, được ghép từ hai từ đơn: Inter cà Action. Trong đó “Inter” mang nghĩa là: Sự liên kết cùng nhau, nối liền với nhau, nối nhau; còn “Action” có nghĩa là: Sự tiến hành làm điều gì, hoạt động ; hành động; là ảnh hưởng, tác đông. Mặt khác, “Interaction” còn có nghĩa: Sự hợp tác, ảnh hưởng qua lại; sự tác động qua lại trực tiếp giữa các yếu tố.
Theo Từ điển mở Online (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia), đã định nghĩa tương tác (Interaction): Là hành động tương hỗ giữa các đối tượng hoặc hành động dựa trên một đối tượng khác; Một cuộc thảo luận hoặc trao đổi giữa người này với người khác. Còn theo từ điển Tiếng Việt, tương tác được định nghĩa là tác động qua lại. Như vậy, tương tác là quá trình tác động qua lại giữa các yếu tố với nhau nhằm tạo ra sự trao đổi giữa các yếu tố và biến đổi của nhiều yếu tố đó. Vì thế, với mỗi chuyên nghành khác nhau thì khái niêm tương tác cũng khác nhau, ví dụ như: - Tương tác cơ học: tác động qua lại của hai hay nhiều vật thể hiện qua lực tương tác - Tương tác thuốc: tác động của thuốc tới thể thể hiện qua các phản ứng sinh hóa - Tương tác truyền hình: (Interactive television): người xem và nguồn phát có thể trao đổi thông tin với nhau thường xuyên trong quá trình chương trình được thực hiện.
- Tương tác dạy học: tác động của giáo viên, học sinh và môi trường thể hiện qua hoạt động dạy và học - … 1. Dạy học TƯƠNG tác. Quá trình dạy học (QTDH) là một quá trình xã hội.Về hình thức, đó là quá trình hoat động tương tác giữa người dạy và người học.Về bản chất, QTDH là quá trình học tập (nhận thức và thực hành) độc đáo của người học được tiến hành dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người dạy nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học. 7 Tương tác giữa người dạy và người học tồn tại tất yếu trong quá trình dạy học.
Không có tương tác sẽ không tạo nên quá trình dạy học. Tương tác tạo nên tình huống và tình huống lại nảy sinh tương tác. Dạy học sẽ mất định hướng và không đạt kết quả nếu để các tương tác trong quá trình dạy học diễn ra một cách tự nhiên. Dạy học tương tác là quá trình dạy học dựa trên sự tác động qua lại giữa ba tác nhân cơ bản: người dạy, người học, môi trường và sự tương tác giữa các phần tử nội bộ trong ba tác nhân đó.
Lý luận dạy học tương tác Tất cả các phương pháp dạy học truyền thống từ xưa tới nay đều có tương tác, vấn đề này ai cung biết và sử dụng. Từ phương thức dạy học truyền khẩu của các cụ đồ đến việc giảng dạy sử dụng các phương tiện hiện đại để tăng tính tương tác trong dạy học. Nhưng việc sử dụng tương tác trong dạy học chỉ là khả năng tích lũy được trong quá trình nghiên cứu về các phương pháp dạy học mà chưa dựa trên một cơ sở khoa học. Phải đến khi tác phẩm “sư phạm tương tác - Một tiếp cận thần kinh trong học và dạy” của hai nhà khoa học giáo dục Canada – Jean - Marc Denommes và Madalein Roy, mới trình bày cách tiếp cận khoa học thần kinh nhận thức của việc học và dạy dựa trên sự vận hành năng động của hệ thần kinh trong quá trình tiếp thu và xử lí thông tin.
Lý luận dạy học tương tác (LLDHTT) là lý luận dạy học theo quan diểm (hay tiếp cận) sư phạm tương tác (SPTT), coi quá trình dạy học là quá trình tương tác đặc thù giữa bộ ba tác nhân – người học, người dạy và môi trường - trong đó, người học là trung tâm, là người thợ chính, người dạy là người hướng dẫn và giúp đỡ. Luận điểm SPTT được đề xuất và trình bày trong tác phẩm “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác” của Jean-Mare Denommes và Madalein Roy năm 1998. Trong đó nêu bật những vấn đề cơ bản đó là: - Bộ ba tác nhân (3E): người học (estudiant), người dạy (enseignant) và môi trường (environnement). - Bộ ba thao tác (3A): Học (Apprendre), giúp đỡ (Aider/Assister) và tác động (Agir).
8 - Bộ ba tương tác: ngươi học – người dạy –môi trường và tương hỗ giữa chúng. - Định hướng tương tác: coi người học là trung tâm, là tác nhân chính của quá trình đào tạo và nhấn mạnh các tác động qua lại giữa người học, người dạy và môi trường. - Sau đây chúng ta sẽ đi sâu vào phân tích từng vấn đề về lý luận dạy học tương tác mà hai nhà khoa học trên đã xây dựng 1. Bộ ba tác nhân * Người học.
Khái niệm người học (estudiant) có nguồn gốc từ tiếng la tinh (studium) với ý nghĩa là “cố gắng và học tập”. Theo nghĩa rộng, thuật ngữ này có hàm nghĩa là can kết và trách nhiệm. Trong quan điểm sư phạm tương tác, khái niệm người học dùng để chỉ tất cả những ai có tham gia (thực hiện) hoạt động học. Người học là người tìm cách hiểu tri thức và chiếm lĩnh nó.
Người học trước hết là người đi học mà không phải là người được dạy * Người dạy Người dạy (enseiganant) là người xã hội ủy thác chuyên trách trong chức năng chuyển giao tri thức, kinh nghiệm xã hội cho người học. Người dạy là người được đào tạo, huấn luyện với những chuyên môn nhất định nên có đủ các phẩm chất và năng lực để thực hiện được chức năng nói trên. Người dạy chỉ cho người học cái đích cần phải đạt, giúp đỡ, làm cho người học hứng thú và đưa họ tới đích. Chức năng chính của người dạy là giúp đỡ người học học và hiểu.Theo phương pháp dạy học tương tác thì người dạy phải làm nảy sinh tri thức ở người học theo cách của người dạy.
Người dạy phục vụ người học. * Môi trường. Hoạt động của người dạy và người học diễn ra trong không gian và thời gian xác định với ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài khác nhau. Đó là môi trường dạy học, môi trường dạy học do cả người dạy và người học cùng nhau phối hợp tổ chức.
Theo quan điểm tương tác “Người dạy và người học không phải là những sinh vật trừu tượng, xung quanh họ là thế giới vật chất văn hóa. Cả người dạy và người học đều có một tính cách rõ rệt và các giá trị cá nhân được phát triển trong một đất 9 nước có các thể chế, chính trị, gia đình và nhà trường mà chúng tất yếu có ảnh hưởng đến họ. Tất cả những yếu tố này bên trong cũng như bên ngoài tạo thành môi trường dạy và học”. Có thể hiểu môi trường dạy học là những diều kiện cụ thể, đa dạng do người dạy tạo ra và tổ chức cho người học hoạt động, phù hợp với người học nhằm đạt tới mục tiêu của nhiệm vụ dạy học.
Môi trường có thể là phương tiện dạy học, môi trường học tập (cơ sở vật chất nhà trường, không khí lớp học,…) đến các phạm trù lớn hơn như gia đình, nhà trường và xã hội,… Trong môi trường dạy học thì phương tiện (means), đóng một vai trò không kém phần quan trọng. Phương tiện trực tiếp để dạy học bao gồm ngững phương tiện chứa các thông tin về các sự vật, hiện tượng và các quá trình xảy ra trong tự nhiên như: Sách giáo khoa, chương trình môn học, sổ tay, vở ghi chép….Ngoài ra còn có các phương tiện mang tin thính giác như: Băng, đĩa; các phương tiện mang tin thị giác như: Bản vẽ, bản đồ…; Các phương tiện mang tin nghe nhìn như: Audio, video…; Các phương tiện mang tin dùng cho sự hình thành khái niệm và thao tác như: Mô hình, đồ vật, thiết bị… Lưu ý: Vấn đề đặt ra là tại sao trong lý luận dạy học tương tác, khi đề cập đến các thành tố của quá trình dạy học, người ta chỉ quan tâm đến 3 nhân tố: người dạy, người học và môi trường. Phải chăng yếu tố nội dung dạy học đã không chú trọng đến?. Có thể khẳng định rằng lý luận dạy học tương tác không bỏ qua yếu tố nội dung dạy học mà ngược lại đề cao yếu tố này như một tất yếu trong phương pháp dạy, phương pháp học và gắn chặt với giáo viên và học sinh.
Bởi vì: - Với người học, nội dung dạy học là điểm kết thúc đối với hoạt động của chính họ và do đó có ý nghĩa của yếu tố định hướng kích thích đối với học sinh - Hoạt động của người dạy gắn liền đối với nội dung dạy học và nội dung dạy học được xem là điểm xuất phát đối với hoạt động của người dạy. Người dạy phải xây dựng kế hoạch dạy học, tổ chức các hoạt động và hợp tác với người học trong giờ học. Tất cả các hoạt động này đều được gắn kết với nội dung dạy học trong đó kế hoạch dạy học (giáo án) là một sự thể hiện tiêu biểu của mối quan hệ này. 10 Những phân tích trên cho thấy lý thuyết dạy học tương tác không hề phủ nhận yếu tố nội dung dạy học trong quá trình dạy học.
Thông qua các nội dung cụ thể hoạt động của giáo viên và học sinh, dạy học tương tác đã gắn kết chặt chẽ phương pháp dạy và phương pháp học với nội dung dạy học, coi đó là những yếu tố đương nhiên trong hoạt động của hai nhân tố người dạy và người học. Bộ ba thao tác Hoạt động dạy học bao gồm toàn bộ các hành động của người học khi học và của người dạy khi giúp đỡ người học trong quá trình học. Thực tế hoạt động dạy học bao gồm bộ ba thao tác: Học(Apprendre) Học là hoạt động của chủ thể nhằm biến đổi bản thân. Học được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Theo Tâm lí học nhận thức: “Học là quá trình biến đổi và cân bằng cấu trúc nhận thức để thích nghi với môi trường”. Theo lí thuyết thông tin: “Học là quá trình thu nhận và xử lí thông tin từ môi trường sống của chủ thể, làm cho chủ thể tự biến đổi”. Từ đó, học được hiểu là “quá trình hóa tri thức của nhân loại thành của cá nhân”. Người học sử dụng nội lực, để kiểm định kiến thức và kỹ năng nảy sinh trong mình theo một phương pháp học nào đó.
“Phương pháp học là khái niệm miêu tả con đường mà người học phải theo bằng cách đưa ra hoạt động học”. Phương pháp học bao gồm toàn bộ quá trình mà người học tiến hành để chiếm lĩnh tri thức, hình thành cho bản thân các kỹ năng, kỹ xảo.