Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC CÁC CHUYÊN ĐỀ HỌC TẬP ĐỊA LÍ 10 1. Định hướng đổi mới giáo dục và đào tạo Việt Nam 1. Những vấn đề chung Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của đất nước, nền giáo dục đã có nhiều bước chuyển mình mạnh mẽ. Những thay đổi của ngành giáo dục được thể hiện rất rõ trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng qua các thời kỳ.
Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Nghị quyết đã nêu rõ: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết từ quan điểm, tư tưởng đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo thực hiện. Đồng thời Nghị quyết cũng nêu quan điểm chỉ đạo “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn.
Như vậy để thực hiện quan điểm chỉ đạo trên, nền giáo dục nước ta cần chuyển từ PPDH theo lối truyền thụ kiến thức một chiều sang hình thành năng lực, phẩm chất cho HS. Đại hội XIII của Đảng cũng đề ra mục tiêu tiếp tục “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người”. Đảng nêu định hướng chính là “tiếp tục đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế” [14]. Mục tiêu giáo dục là hướng vào phát triển con người toàn 8 diện cả về năng lực và phẩm chất, trong đó chỉ rõ “Chuyển mạnh từ giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức đa dạng.
Như vậy có thể thấy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tới giáo dục, coi đổi mới giáo dục là điều kiện cần thiết để phát triển con người toàn diện. Trong đó, vấn đề trọng tâm của đổi mới giáo dục là đổi mới về mục tiêu, chương trình, PP giáo dục, chú trọng giáo dục gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực và phẩm chất cho người học. Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực “Quốc hội khóa 13 đã thông qua Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 về “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông”. Theo các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học.
Chương trình giáo dục phổ thông đảm bảo sự phát triển phẩm chất và năng lực người học, chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để giải quyết các vấn đề trong học tập và cuộc sống, giúp HS tích hợp những gì học được từ các lớp học dưới để tạo nền tảng ở lớp học tiếp theo và có định hướng nghề nghiệp phù hợp. Như vậy, chương trình nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của HS, giúp HS phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân, biết vận dụng các PP học tập tích cực để hoàn chỉnh tri thức và kĩ năng nền tảng” [16]. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể hình thành và phát triển cho HS 10 năng lực cốt lõi. Đây là các năng lực cơ bản mà bất cứ ai cũng cần trong học tập, cuộc sống và lao động nghề nghiệp.
Các năng lực cốt lõi (Nguồn: Tác giả thiết kế) Mỗi năng lực có những biểu hiện cụ thể như: “- Năng lực tự chủ và tự học: luôn chủ động, tích cực thực hiện công việc của bản thân trong học tập và cuộc sống; tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng; tự điều chỉnh tình cảm, hành vi của mình; thích ứng với cuộc sống; có khả năng định hướng nghề nghiệp. - Năng lực giao tiếp và hợp tác: xác định được mục đích nội dung, phương tiện và thái độ giao tiếp; thiết lập, phát triển các quan hệ xã hội; điều chỉnh và hóa giải các mâu thuẫn; xác định mục đích và phương thức hợp tác; xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân; xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác; tổ chức và thuyết phục người khác; đánh giá hoạt động hợp tác; hội nhập quốc tế. - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: nhận ra ý tưởng mới; phát hiện và làm rõ vấn đề; hình thành và triển khai ý tưởng mới; đề xuất, lựa chọn giải pháp; thiết kế và tổ chức hoạt động; tư duy độc lập. - Năng lực ngôn ngữ: bao gồm năng lực sử dụng tiếng Việt và năng lực sử dụng ngoại ngữ; mỗi năng lực được thể hiện qua các hoạt động nghe, nói, đọc, viết.
- Năng lực tính toán: thể hiện qua các hoạt động nhận thức kiến thức toán học; tư duy toán học; vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học. 10 - Năng lực khoa học: thể hiện qua các hoạt động nhận thức khoa học; tìm hiểu tự nhiên, tìm hiểu xã hội; vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học. - Năng lực công nghệ: thể hiện qua hoạt động nhận thức công nghệ; giao tiếp công nghệ; sử dụng công nghệ; đánh giá công nghệ; thiết kế kĩ thuật. - Năng lực tin học: thể hiện qua hoạt động sử dụng và quản lý các phương tiện công nghệ và truyền thông; ứng xử phù hợp trong môi trường số; giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông; ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong học và tự học; hợp tác trong môi trường số.
- Năng lực thẩm mỹ: được thể hiện qua các hoạt động nhận thức các yếu tố thẩm mỹ; phân tích, đánh giá các yếu tố thẩm mỹ; tái hiện, sáng tạo và ứng dụng các yếu tố thẩm mỹ. - Năng lực thể chất: thể hiện qua các hoạt động chăm sóc sức khỏe; vận động cơ bản; hoạt động thể dục thể thao” [4]. Như vậy, mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông đã thay đổi theo hướng chuyển từ trang bị kiến thức sang định hướng phát triển năng lực. Khi dạy học, GV chỉ đóng vai trò là người tổ chức, điều khiển hoạt động học.
HS là chủ thể, là người trực tiếp trải nghiệm, khám phá và giải quyết vấn đề. HS lĩnh hội kiến thức và hình thành năng lực thông qua hoạt động. Một chủ đề hoặc một bài học có thể hướng đến hình thành các năng lực khác nhau cho HS. Do đó GV cần căn cứ vào yêu cầu cần đạt để vận dụng các PPDH phù hợp.
Các phương pháp dạy học tích cực 1. Khái niệm PPDH hiểu theo nghĩa hẹp là cách thức hành động của GV và HS nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể.TS Trịnh Văn Biều: “PPDH là cách thực hiện phối hợp, thống nhất giữa người dạy và người học nhằm thực hiện tối ưu các nhiệm vụ dạy học. 11 Đó là sự kết hợp hữu cơ và thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học trong quá trình dạy học” [1]. PPDH là một thành tố rất quan trọng của quá trình dạy học.
PPDH phù hợp với nội dung bài học sẽ tạo hứng thú và sự tích cực cho HS. Đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS là tìm ra cách vận dụng, kết hợp linh hoạt các PPDH để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. Định hướng đổi mới PPDH đã được thể hiện rất rõ trong Luật giáo dục 2019, điều 7.2 “Phương pháp giáo dục phải khoa học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học và hợp tác, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [21]. PPDH tích cực là cách thức dạy học theo lối phát huy tính tích cực, chủ động của HS.
Trong đó GV là người giữ vai trò hướng dẫn, gợi ý, tổ chức, giúp người học tự tìm kiếm, khám phá tri thức mới. GV là người cố vấn, điều khiển tiến trình giờ dạy, tổ chức hoạt động học cho HS. PPDH tích cực rất chú trọng đến kỹ năng thực hành, vận dụng giải quyết vấn đề thực tiễn, chú trọng hình thành các năng lực và phẩm chất cho người học. Đặc điểm của dạy học theo PP này là giảm thuyết trình, diễn giải; tăng cường tổ chức các hoạt động học tập để HS lĩnh hội kiến thức qua hoạt động.
Một số phương pháp dạy học tích cực “- PP dạy học theo nhóm: Là cách tổ chức dạy học mà HS trong lớp được chia thành các nhóm nhỏ. Trong khoảng thời gian nhất định, mỗi nhóm tự phân công nhiệm vụ cho các thành viên và hợp tác để hoàn thành nhiệm vụ học tập. Để hoạt động nhóm hiệu quả, GV nên chia nhóm có từ 4 - 6 HS/nhóm. Các nhóm có thể thực hiện nhiệm vụ giống nhau hoặc khác nhau - là các phần trong cùng một chủ đề chung.
- PP nghiên cứu trường hợp điển hình: Là PP sử dụng một câu chuyện có thật hoặc chuyện được viết dựa trên những trường hợp thường xảy ra trong 12 cuộc sống để minh chứng cho một hoặc một số vấn đề. Trường hợp điển hình có thể dài hay ngắn, tùy từng nội dung vấn đề song phải phù hợp với chủ đề bài học, phù hợp với trình độ HS và thời lượng. - PP giải quyết vấn đề: Là PP đặt HS vào tình huống có vấn đề chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, kích thích HS phải tự lực, chủ động, tư duy để giải quyết vấn đề. Các tình huống có vấn đề có thể là các tình huống khoa học chuyên môn, có thể là tình huống gắn với thực tiễn.
PP này giúp HS học được cách phát hiện và giải quyết vấn đề. - PP đóng vai: Là PP cho HS tập đặt mình vào các tình huống giả định để ứng xử theo quan điểm của mình. PP này giúp HS tập trung suy nghĩ và tư duy vào một sự việc cụ thể. Tuy nhiên việc “diễn” không phải là phần chính của PP này mà quan trọng là sự thảo luận sau phần diễn.
- PP trò chơi: Là PP tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn đề thông qua một trò chơi nào đó.