Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC VẬT LÍ GẮN VỚI GD BVMT 1. Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu 1. Vai trò của môi trường và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường * Tầm quan trọng của môi trường - Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật. - Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người.
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình. - Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất. - Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương thực và tái tạo môi trường.
Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước. * Những vấn đề về môi trường Ngày nay, vấn đề ô nhiễm môi trường, phá vỡ cân bằng sinh thái đã là vấn đề quan tâm chung của toàn nhân loại. Do đó, người ta coi vấn đề môi trường là một trong các “vấn đề toàn cầu”. Nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường đã được xác định chủ yếu là do các hoạt động của con người như: Phá rừng, sản xuất công, nông nghiệp, giao thông vận tải, sinh hoạt, dân số tăng nhanh… Sự ô nhiễm môi trường có thể gây ra những hậu quả to lớn đến chất lượng môi trường sống của chúng ta, làm suy giảm tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, làm biến đổi khí hậu… 4 Sự tăng nhiệt độ trái đất đáng kể trong những năm vừa qua đang làm cho thế giới không an tâm.
Biến đổi khí hậu trên thế giới dẫn đến thiên tai, động đất, sóng thần, lũ lụt ngày càng xuất hiện với mật độ nhiều và nặng hơn. Thiên nhiên ban tặng cho con người nhiều thứ, vậy mà ta không biết giữ gìn và bảo vệ nó. Để giờ đây, khi môi trường đang dần bị xuống cấp, xuất hiện nhiều loại “bệnh lạ” hơn, con người mới nhận thấy được tầm quan trọng của môi trường. [7] * Sự cần thiết phải BVMT Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chúng ta.
Chính phủ đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường nhằm xử lý, răn đe những tổ chức, cá nhân có hành vi làm tổn hại đến môi trường, rồi các công nghệ xử lý rác thải, phát minh khoa học ra đời nhằm giảm thiểu những tác động đến môi trường. Vậy thì chúng ta cần “làm gì để bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu?”. Nhận thức chung về GD BVMT * Giáo dục BVMT trên thế giới Từ đầu những năm 1960, những dấu hiệu cho thấy sự phát triển ngày càng tăng của nạn suy thoái môi trường sống ngày càng được thể hiện rõ ràng hơn, con người đã bắt đầu ý thức được về những ảnh hưởng có hại của mình đối với môi trường sống. Kể từ đó nhiều hội nghị cấp cao của Liên Hợp quốc về giáo dục BVMT đã diễn ra.
Điển hình là: Hội nghị của Liên Hợp quốc về Con người và Môi trường tổ chức tại thủ đô Stockholm của Thuỵ Điển từ ngày 5 - 6/6/1972 là kết quả của những nhận thức mới này, là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường. Năm 1987, tại Hội nghị về môi trường ở Moscow do UNEP và UNESCO đồng tổ chức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng của giáo dục môi trường: “Nếu không nâng cao được sự hiểu biết của công chúng về những mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng môi trường với quá trình cung ứng liên tục 5 các nhu cầu ngày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt được những mối nguy cơ về môi trường ở các địa phương cũng như trên toàn thế giới. Bởi vì, hành động của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động cơ này lại tùy thuộc vào chính nhận thức và trình độ hiểu biết của họ. Do đó, giáo dục môi trường là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hiểu biết về môi trường”.[10] Tháng 6/ 1992, tại Brazin LHQ đã đã tổ chức hội nghị thượng đỉnh Trái đất về MT và phát triển với sự tham gia đông đảo của hơn 1000 đại biểu của 178 quốc gia, có 116 nguyên thủ các quốc gia.
Hội nghị đã thảo luận trên phạm vi rộng các vấn đề về MT. Hội nghị đã nhất trí cao nội dung sự phát triển, giáo dục và môi trường phải là một bộ phận thống nhất của quá trình học tập ở cả hai dạng chính thức và không chính thức. Và một dự kiến được đưa ra là mọi chính phủ phải nỗ lực phấn đấu để cập nhật hóa hoặc chuẩn bị các chiến lược nhằm mục đích kết hợp môi trường và phát triển thành vấn đề trung tâm để đưa vào tất cả các cấp giáo dục. * Giáo dục BVMT ở Việt Nam: Theo dự thảo chương trình GDPT môn Vật lí (19/1/2018) Bộ GD đã đưa phần kiến thức “Vật lí với GD bảo vệ môi trường” vào chương trình Vật lí lớp 10.
Đã chứng tỏ rằng vấn đề BVMT là vô cùng quan trọng và rất cấp thiết. Vì đó mà hàng loạt các Nghị định, Quyết định, luật BVMT đã ra đời như: Nghị quyết số 41/NQ-TƯ ngày 15/11/2004 của bộ chính trị về tăng cường công tác BVMT trong thời kì đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước. Quyết định 1363/QĐ - TTg ngày 17/10/2001 của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án “Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân”. Quyết định số 256/2003/QĐ - TTg ngày 02/12/2003 của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
Luật BVMT số 52/2005/QH11 Hà Nội. 6 Như vậy, việc GD BVMT cần được triển khai sâu rộng tới từng cấp học, bậc học, tới từng đối tượng học sinh, giáo viên trong tất cả các nhà trường. Cũng như trong tất cả các cơ sở GD và mọi tầng lớp nhân dân trong đời sống xã hội của chúng ta. Nhằm mục đích nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của môi trường và có ý thức trong vấn đề bảo vệ môi trường.
Vấn đề GDMT gắn với dạy học môn Vật lí nói chung, và gắn với chương “Các Định luật bảo toàn” nói riêng Vấn đề GD BVMT trong dạy học vật lí đã có không ít những công trình nghiên cứu của các tác giả ở nhiều góc độ khác nhau: - Bộ GD & ĐT với cuốn “Giáo dục BVMT trong môn vật lí THPT” Nhà xuất bản Hà Nội - 2012. - Lê Thông, Nguyễn Hữu Dũng trong cuốn “Dân số, môi trường và tài nguyên” Nhà xuất bản GD - 2000. - Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Phi Hạnh, Đặng Văn Đức trong cuốn “GDMT qua môn vật lí ở trường phổ thông” Nhà xuất bản Hà Nội - 2003. - Tác giả Nguyễn Đình Khoa trong cuốn “Môi trường sống và con người” Nhà xuất bản Hà Nội - 1987.
Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên là hết sức to lớn, được đề cập ở phạm vi rộng và bao quát. Những vấn đề đó HS chưa thể hiểu và nhận thức hết được những ảnh hưởng nghiêm trọng và nặng nề của vấn nạn môi trường hiện nay. Từ những phân tích nêu trên và căn cứ vào kinh nghiệm giảng dạy trực tiếp môn vật lí ở trường PT, tôi nhận thấy phải cần thiết phải trang bị cho HS các kiến thức cơ bản về môi trường như: Vai trò của MT đối với đời sống con người, những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng MT sống và biến đổi khí hậu, việc khai thác, sử dụng nguồn năng lượng hợp lí, tái tạo nguồn năng lượng… 7 1. Sự cần thiết phải đưa GDMT vào nội dung giảng dạy nói chung và giảng dạy môn Vật lí nói riêng - Ở bậc THPT, việc GDMT phải được coi là một nội dung quan trọng, chính thống và có hệ thống, có chất lượng tốt và hiệu quả cao.
Có thể lồng ghép vào các bài học, môn học, cách thức đưa vào chương trình và phương thức đào tạo phải thu được kết quả xứng với tầm quan trọng của vấn đề. Giúp các em lĩnh hội kiến thức, kĩ năng cũng như tự bản thân các em xác định thái độ đúng đắn khi đối xử với môi trường, với thiên nhiên như chính ngôi nhà của các em. [10] - Đối với môn vật lí nói riêng, việc đưa kiến thức GB BVMT lồng ghép vào trong các tiết dạy, bài dạy là vô cùng hữu ích và mang tính hiệu quả cao trong hoạt động giáo dục học sinh. Các em không chỉ được học kiến thức môn vật lí mà còn được giáo dục kiến thức về lĩnh vực khác.
Tất cả các hiện tượng diễn ra trong tự nhiên đều liên quan đến vật lí. Do vậy, tùy vào nội dung của bài học mà người giáo viên có thể vận dụng linh hoạt việc tích hợp với GD BVMT sao cho phù hợp, đem lại hiệu quả cao. - Giáo dục BVMT còn là biện pháp trang bị cho người học: + Ý thức trách nhiệm sâu sắc với sự phát triển bền vững của trái đất. + Khả năng cảm thụ, có đạo lí môi trường + Hình thành nhân cách trên đạo lí môi trường.
+ Có hiểu biết cơ bản về môi trường và có cách giải quyết các vấn đề về môi trường. Một số kiến thức vật lí gắn với môi trường 1. Một số khái niệm môi trường gắn với kiến thức vật lí +) "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên." [18] +) Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế xã hội, tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng. Năng lượng, các dạng năng lượng * Năng lượng là gì? - Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Năng lượng là độ đo định lượng chung cho mọi dạng vận động khác nhau của vật chất”.
- Theo Từ điển tiếng Việt và Từ điển vật lý phổ thông: “Năng lượng là đại lượng vật lý đặc trưng cho khả năng sinh công của một vật”. * Các dạng năng lượng.