Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Lịch sử "Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo xây dựng đội ngũ công nhân từ năm 1996 đến năm 2011" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Nhung thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Đoàn Ngọc Hải, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 62 22 03 15), bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả khẳng định giai cấp công nhân là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và là nền tảng chính trị - xã hội của Đảng. Tuy nhiên, trước tác động của kinh tế thị trường, công nhân Việt Nam nói chung và Quảng Ninh nói riêng đang đối mặt nhiều vấn đề phức tạp về việc làm, thu nhập, nhà ở, bảo hiểm và phát triển đoàn thể trong doanh nghiệp ngoài nhà nước. Quảng Ninh là địa bàn công nghiệp trọng điểm, nơi khởi nguồn truyền thống công nhân mỏ, song đội ngũ công nhân địa phương còn bộc lộ nhiều hạn chế: cơ cấu chưa cân đối, học vấn và tay nghề chưa cao, tính kỷ luật còn yếu, phần lớn xuất thân từ nông dân chưa qua đào tạo cơ bản, bản lĩnh chính trị và nhận thức pháp luật chưa đồng đều. Trong khi đó, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đối với việc xây dựng đội ngũ công nhân giai đoạn 1996 - 2011 dưới góc độ Lịch sử Đảng.

Mục tiêu nghiên cứu là làm sáng tỏ hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về xây dựng đội ngũ công nhân (1996 - 2011), từ đó rút ra nhận xét và kinh nghiệm lịch sử vận dụng vào thực tiễn. Luận án giải quyết 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về xây dựng đội ngũ công nhân của Tỉnh trong những năm 1996 - 2011.
  2. Phân tích, luận giải làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về xây dựng đội ngũ công nhân từ năm 1996 đến năm 2011.
  3. Nhận xét ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân trong quá trình lãnh đạo xây dựng đội ngũ công nhân của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh.
  4. Đúc rút những kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo xây dựng đội ngũ công nhân của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh để vận dụng vào hiện thực.

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về xây dựng đội ngũ công nhân từ năm 1996 đến năm 2011. Phạm vi nội dung tập trung vào chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh đối với đội ngũ công nhân do tỉnh quản lý trên các phương diện: quy mô số lượng, cơ cấu, chính trị tư tưởng, đào tạo tay nghề, chế độ chính sách đời sống và phát triển tổ chức đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp. Phạm vi không gian là địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Phạm vi thời gian từ năm 1996 (Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X) đến năm 2011 (Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng và sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII tháng 11/2010), có mở rộng khảo sát tư liệu trước năm 1996 và sau năm 2011 để đảm bảo tính hệ thống.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả khảo cứu tình hình nghiên cứu qua ba nhóm công trình:

Nhóm thứ nhất là các công trình nghiên cứu chung về xây dựng giai cấp công nhân. Trong nước, Viện Công nhân và Công đoàn có hai ấn phẩm tiêu biểu về xu hướng biến động của công nhân đầu thế kỷ XXI [144] và hoạt động công đoàn trong doanh nghiệp FDI [145]. PGS. TS. Dương Xuân Ngọc nghiên cứu toàn diện về công nhân trong thời kỳ CNH, HĐH [84] và vai trò đi đầu của giai cấp này [83]. Tác giả Cù Thị Hậu [53] phân tích các thách thức và kiến nghị chiến lược tổng thể về công nhân. PGS. TS. Nguyễn Thanh Tuấn [134] vận dụng quan điểm Mác - Lênin xác định giai cấp công nhân. Tác giả Lê Thanh Hà [51] khảo sát 20 năm đổi mới của Đảng về công nhân (1986 - 2006). Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có các công trình về tư tưởng Hồ Chí Minh với công nhân [130] và vai trò lãnh đạo của Đảng [129]. Đề tài của TS. Đặng Ngọc Tùng [135] nghiên cứu công nhân giai đoạn 2011 - 2020. Các tác giả Hoàng Chí Bảo, Nguyễn Viết Thông, Bùi Đình Bôn [10] luận giải vấn đề lý luận trong kinh tế thị trường. Đỗ Ngọc Ninh, Nguyễn Văn Giang [86] và Nguyễn Văn Nam [81] làm rõ bản chất giai cấp của Đảng. Cùng hướng này có nghiên cứu của Văn Tạo [100, 101], Đỗ Quang Hưng [59], Cao Văn Lượng [73], Đào Duy Quát, Cao Đức Thái [92], Nguyễn An Ninh [88], Nguyễn Hữu Dũng [32]; các luận án của Trần Ngọc Sơn [99], Phạm Thị Xuân Hương [61], Nguyễn Thị Hường [62]; các bài viết của Dương Văn Sao [97], Thái Văn Long [71], Trương Giang Long [72], Trần Văn Chử [24], Nguyễn Văn Huyên [58]. Ở nước ngoài, có công trình của Ni-na Pê-Tơ-Rô-Va [82], sách dịch của NXB Chính trị Quốc gia (2004) về phong trào công nhân quốc tế, sách của Liễu Khả Bạch, Vương Mai, Diêm Xuân Chi [4], bài viết của V., Maicen Nhepsi [85] và Trushkov [133].

Nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu về công nhân ở các địa phương: Phan Thanh Khôi [65] khảo sát ý thức chính trị của công nhân tại Hà Nội; Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai [138] ghi lại lịch sử công nhân địa phương; Liên đoàn Lao động Hải Phòng [69] nghiên cứu phong trào công nhân cảng biển; Nguyễn Đăng Thành [106] và Nguyễn Khánh Vân [143] phân tích thực trạng và xu hướng công nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh; Liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Kạn [68] nghiên cứu lịch sử công nhân địa phương.

Nhóm thứ ba là các nghiên cứu về Quảng Ninh và công nhân mỏ: Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh [6] biên soạn sách Bác Hồ với công nhân và nhân dân tỉnh; Thi Sảnh [96] nghiên cứu lịch sử công nhân mỏ (1945 - 1955); Hồng Hải và Nhị Giang [52] viết về tiềm năng tỉnh; Chu Mạnh Hiển [54] ghi lại 60 năm tuổi trẻ Quảng Ninh; Phạm Ngọc Thảo [107] nghiên cứu phong trào công nhân và công đoàn tỉnh (1976 - 2000); kỷ yếu hội thảo khoa học của Tạp chí Cộng sản, Tỉnh ủy Quảng Ninh và Tập đoàn Than - Khoáng sản [14]; sách của Vũ Trọng Hoàng [55]; bài viết của Vũ Hồng Phong [89] và Nguyễn Duy Hưng [60].

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình nêu trên phần lớn tiếp cận ở tầm vĩ mô cả nước, hoặc dưới góc độ kinh tế học, xã hội học, hoặc phản ánh lịch sử công đoàn từng thời kỳ. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo xây dựng đội ngũ công nhân từ năm 1996 đến năm 2011 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giai cấp công nhân và xây dựng giai cấp công nhân trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án sử dụng hai phương pháp chủ đạo của khoa học lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Phương pháp lịch sử giúp tái hiện tuần tự tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh theo diễn tiến thời gian và bối cảnh cụ thể. Phương pháp logic được vận dụng để làm sáng tỏ bản chất các chủ trương, phân tích mối quan hệ giữa đường lối của Trung ương và sự cụ thể hóa của địa phương, từ đó rút ra các nhận xét và kinh nghiệm lịch sử. Ngoài ra, tác giả kết hợp các phương pháp liên ngành: phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh và thống kê lịch sử để xử lý số liệu nhân lực và cơ cấu lao động.

Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm: tác phẩm kinh điển của Mác - Lênin và Hồ Chí Minh toàn tập; văn kiện Đại hội toàn quốc của Đảng (khóa VII, VIII, IX, X, XI), các nghị quyết Trung ương; văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh và các sở, ban, ngành từ năm 1996 đến năm 2011; niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh, báo cáo điều tra lao động qua các năm; cùng các sách chuyên khảo, bài báo khoa học, luận án và kỷ yếu hội thảo đã công bố.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu theo ba nhóm chủ đề: các công trình chung về giai cấp công nhân trong và ngoài nước; các công trình về công nhân tại các địa phương; và các nghiên cứu về Quảng Ninh cùng công nhân vùng mỏ. Tác giả phân tích các luận điểm có thể kế thừa và làm rõ khoảng trống khoa học lịch sử Đảng cần giải quyết.

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về xây dựng đội ngũ công nhân từ năm 1996 đến năm 2005

Chương 2 luận giải các yếu tố tác động, thực trạng trước năm 1996 và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh:

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Tỉnh có diện tích 6.100 km2, biên giới bộ 120 km và biên giới biển gần 190 km giáp Trung Quốc; 3 cửa khẩu gồm Móng Cái, Hoành Mô, Bắc Phong Sinh; bờ biển 250 km với 2.077 đảo, trên 40.000 ha bãi triều, hơn 20.000 ha eo biển, vịnh. Đồi núi chiếm trên 80% diện tích gắn với cánh cung Đông Triều dài hơn 150 km; hệ thống 30 sông suối dài trên 10 km. Tỉnh có 140 mỏ và điểm quặng; bể than Quảng Ninh trải dài từ Phả Lại đến Vạn Hoa diện tích khoảng 1.000 km2; mỏ đá dầu Đồng Ho tại Hoành Bồ; đá vôi, cát thủy tinh, danh thắng Vịnh Hạ Long, Yên Tử. Giao thông thuận lợi qua Quốc lộ 4B, 279, 10, 1A, đường 332, 333, các cảng Cửa Ông, Hòn Gai, Cái Lân. Về kinh tế: Giai đoạn 1996 - 2000, GDP tăng trưởng bình quân 9,6%/năm; xuất khẩu tăng 14,4%/năm; nông, lâm, ngư nghiệp tăng 7,7%/năm. Giai đoạn 2001 - 2005, GDP tăng bình quân 7,5%/năm; GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 726 USD (bằng 1,65 lần năm 2000); giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 20,1%/năm; nông, lâm, ngư nghiệp tăng 7,85%/năm.
  • Thực trạng trước năm 1996: Sau khi triển khai Quyết định 176/HĐBT ngày 09/10/1989 và các quyết định chấn chỉnh kinh tế quốc doanh, 25.000 người nghỉ việc nhận trợ cấp một lần hoặc chuyển khu vực kinh tế. Lao động khu vực Nhà nước giảm mạnh từ 174.909 người (năm 1987) xuống còn 118.497 người (năm 1995).

Bảng tổng hợp biến động và trình độ công nhân Quảng Ninh giai đoạn trước năm 1996:

Chỉ tiêu thống kê Dữ liệu ghi nhận trong văn bản
Công nhân, viên chức giữa năm 1987 174.909 người (chiếm 42,6% lao động toàn tỉnh)
Lao động khu vực Nhà nước năm 1995 118.497 người (do 25.000 người nghỉ chế độ một lần)
Cơ cấu xuất thân công nhân năm 1995 47,2% người địa phương; 52,8% người ngoại tỉnh (Thái Bình, Nam Hà, Hải Hưng)
Trình độ cao đẳng, đại học (năm 1989) 12.609 người
Trình độ tiến sĩ, phó tiến sĩ (năm 1989) 33 người
Trình độ trung cấp kỹ thuật, nghiệp vụ (1989) 33.337 người
Công nhân kỹ thuật có bằng cấp (năm 1989) 48.337 người
Công nhân kỹ thuật không có bằng (năm 1989) 31.010 người
  • Chủ trương và chỉ đạo: Đại hội X Đảng bộ tỉnh (6/1996) đề ra mục tiêu đưa Quảng Ninh trở thành tỉnh công nghiệp và du lịch hiện đại. Ngày 30/7/1996, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU khóa X về một số giải pháp trước mắt xây dựng giai cấp công nhân, xác định công nhân mỏ và công nhân doanh nghiệp nhà nước làm nòng cốt. Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh tập trung vào 5 nội dung: (1) Phát triển số lượng và cơ cấu công nhân đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH; (2) Giáo dục chính trị, tư tưởng nâng cao nhận thức; (3) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề và chuyên môn; (4) Thực hiện chính sách chăm lo đời sống vật chất, tinh thần; (5) Xây dựng tổ chức đảng, đoàn thể trong các cơ sở sản xuất.

Chương 3: Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo đẩy mạnh xây dựng đội ngũ công nhân từ năm 2006 đến năm 2011

Chương 3 phản ánh bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO (2007) và thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 khóa X về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh cụ thể hóa thành các nghị quyết, chương trình hành động khóa XII và XIII. Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh tập trung vào 5 nhiệm vụ: (1) Phát triển cơ cấu, số lượng công nhân đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, mở rộng tại các khu công nghiệp tập trung và khu vực ngoài nhà nước; (2) Nâng cao ý thức giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị; (3) Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng tay nghề kỹ thuật; (4) Chỉ đạo thực hiện chính sách bảo hiểm, tiền lương, nhà ở và bảo hộ lao động; (5) Chỉ đạo xây dựng tổ chức đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp, phát huy vai trò của công nhân trong phát triển kinh tế - xã hội.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 4 đánh giá toàn diện quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh giai đoạn 1996 - 2011:

  • Ưu điểm: Đảng bộ tỉnh đã quán triệt kịp thời đường lối của Trung ương, mở rộng quy mô đội ngũ công nhân, nâng cao tỷ lệ qua đào tạo nghề, bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động và giữ vững ổn định chính trị địa bàn vùng mỏ.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Chất lượng đội ngũ chuyển biến chưa đồng đều; công nhân kỹ thuật bậc cao còn thiếu; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động của một bộ phận công nhân trẻ còn yếu; việc xây dựng tổ chức đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp ngoài nhà nước gặp nhiều trở ngại. Nguyên nhân do tác động của cơ chế thị trường, nguồn lực đầu tư an sinh còn hạn chế và năng lực lãnh đạo ở một số cấp ủy cơ sở chưa theo kịp thực tiễn.
  • Kinh nghiệm lịch sử: Luận án đúc kết 5 bài học về: nâng cao nhận thức của cấp ủy về vai trò của công nhân; gắn quy hoạch công nhân với chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương; kết hợp giáo dục chính trị với đào tạo tay nghề; chăm lo bảo vệ lợi ích và an sinh xã hội cho người lao động; tăng cường xây dựng tổ chức đảng, đoàn thể trong mọi thành phần kinh tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận án gồm:

  • Hệ thống hóa toàn diện các chủ trương, nghị quyết và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về xây dựng đội ngũ công nhân giai đoạn 1996 - 2011.
  • Tái hiện khách quan, trung thực tiến trình biến đổi của đội ngũ công nhân Quảng Ninh về quy mô số lượng, cơ cấu ngành nghề và chất lượng tay nghề dưới tác động của sự nghiệp đổi mới.
  • Tổng kết thực tiễn, làm rõ các ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn đối với công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn mới.
  • Đóng góp vào việc tổng kết sự lãnh đạo của Đảng về xây dựng giai cấp công nhân từ thực tiễn một địa bàn công nghiệp khai khoáng trọng điểm của cả nước.
  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo khoa học phục vụ nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh và Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tại các học viện, trường đại học.
  • Luận án đề xuất các kiến nghị về chính sách đào tạo nghề chuyên sâu, giải quyết vấn đề nhà ở, cải thiện môi trường làm việc và giải pháp xây dựng tổ chức đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Luận án tập trung phản ánh đội ngũ công nhân do tỉnh quản lý và công nhân ngành than - khoáng sản; mức độ khảo sát công nhân tại khu vực doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa còn ở mức khái quát. Luận án dừng lại ở mốc thời gian năm 2011 nên chưa đánh giá được tác động của chủ trương chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ "nâu" sang "xanh" của tỉnh Quảng Ninh ở giai đoạn tiếp theo.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    1. Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đối với việc xây dựng đội ngũ công nhân từ năm 2011 đến nay gắn với chuyển đổi cơ cấu kinh tế xanh.
    2. Đi sâu khảo sát thực tiễn xây dựng tổ chức đảng và phát triển đoàn viên, đảng viên trong các khu kinh tế ven biển, khu công nghiệp và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Giá trị tham khảo

  • Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Xây dựng Đảng, Xã hội học và Kinh tế chính trị.
  • Công trình cung cấp tư liệu giá trị cho giảng viên các trường chính trị, trường đại học, cao đẳng khi giảng dạy môn Lịch sử Đảng và Lịch sử Đảng bộ địa phương.
  • Cán bộ lãnh đạo cấp ủy, cơ quan quản lý lao động và tổ chức công đoàn các cấp tại tỉnh Quảng Ninh cũng như các tỉnh có khu công nghiệp tập trung có thể tham khảo các kinh nghiệm lịch sử để vận dụng vào công tác xây dựng giai cấp công nhân và phát triển tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao luận án lựa chọn khung thời gian nghiên cứu từ năm 1996 đến năm 2011? Năm 1996 là mốc Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ X mở đầu thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU chuyên đề về xây dựng giai cấp công nhân. Năm 2011 là thời điểm Đại hội XI của Đảng và ngay sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (11/2010), khép lại 15 năm thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ đầu CNH, HĐH của tỉnh.

  2. Việc sắp xếp doanh nghiệp nhà nước trước năm 1996 tác động thế nào đến quy mô công nhân Quảng Ninh? Thực hiện Quyết định 176/HĐBT ngày 09/10/1989 và các quyết định chấn chỉnh sản xuất quốc doanh, có khoảng 25.000 người nghỉ việc trợ cấp một lần hoặc chuyển sang thành phần kinh tế khác. Số lượng lao động khu vực Nhà nước giảm từ 174.909 người (năm 1987) xuống còn 118.497 người vào năm 1995.

  3. Cơ cấu xuất thân của công nhân khu vực Nhà nước tại Quảng Ninh năm 1995 có đặc điểm gì? Văn bản ghi nhận trong 118.497 công nhân khu vực Nhà nước năm 1995, người địa phương chiếm 47,2%, người ngoại tỉnh chiếm 52,8% (đông nhất là từ các tỉnh Thái Bình, Nam Hà và Hải Hưng).

  4. Nghị quyết 01-NQ/TU ngày 30/7/1996 của Tỉnh ủy Quảng Ninh xác định lực lượng nòng cốt nào? Nghị quyết số 01-NQ/TU xác định xây dựng đội ngũ công nhân Quảng Ninh phải kế thừa truyền thống công nhân mỏ, lấy công nhân mỏ và công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước làm lực lượng nòng cốt.

  5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu chính của luận án là gì? Luận án dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và logic, kết hợp phân tích, tổng hợp, so sánh và thống kê lịch sử.

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Thị Nhung đã tái hiện trung thực, có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo xây dựng đội ngũ công nhân từ năm 1996 đến năm 2011. Công trình phân tích sâu sắc các yếu tố tác động, làm rõ quá trình chỉ đạo trên các mặt số lượng, cơ cấu, tay nghề, chính trị tư tưởng và đời sống công nhân mỏ. Các nhận xét và 5 bài học kinh nghiệm lịch sử được đúc rút mang lại giá trị khoa học thiết thực cho công tác nghiên cứu lịch sử Đảng và hoạch định chính sách xây dựng giai cấp công nhân tại các trung tâm công nghiệp hiện nay.