BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI HỌC ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN NGHỆ THUẬT TIỂU HỌC
- Mã số đề tài: B2004-23-64
- Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
- Chủ nhiệm đề tài: ThS. Lê Anh Cường
- Thành viên tham gia: TS. NTH Đức Côn, ThS. Nguyễn Văn Hồng, CN. Hồ Đắc Hải Miên cùng nhóm cộng sự.
Tóm tắt nghiên cứu
Nghiên cứu cấp Bộ mã số B2004-23-64 do ThS. Lê Anh Cường chủ nhiệm tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM tập trung giải quyết câu hỏi nghiên cứu cốt lõi: Làm thế nào để xây dựng chương trình đào tạo (CTĐT) đại học theo hệ thống tín chỉ cho giáo viên dạy nghệ thuật bậc tiểu học, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch từ truyền thụ kỹ năng đơn thuần sang giáo dục thẩm mỹ toàn diện?
Về phương pháp, đề tài kết hợp nghiên cứu lý luận phát triển chương trình (tiếp cận theo mô hình của Tyler, Taba, Oliva) với phương pháp điều tra xã hội học thực nghiệm. Mẫu khảo sát định lượng gồm 68 giảng viên/giáo viên và 228 sinh viên sư phạm nghệ thuật tại TP.HCM, kết hợp phân tích thực trạng đội ngũ tại 12 trường tiểu học trên địa bàn Quận 1 thông qua phần mềm SPSS.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự mất cân đối nghiêm trọng: 50% trường tiểu học thiếu giáo viên Mỹ thuật chính quy (buộc phải dùng giáo viên chủ nhiệm dạy thay), trong khi nội dung giảng dạy tại trường phổ thông bị lệch hướng khi dành phần lớn thời lượng rèn kỹ năng thao tác cơ học thay vì khơi mở thị hiếu thẩm mỹ. Đồng thời, CTĐT sư phạm hiện hành bộc lộ tính xơ cứng, nặng niên chế và thiếu tính liên ngành.
Ý nghĩa thực tiễn của công trình là đề xuất khung phương hướng cải tổ CTĐT đại học theo học chế tín chỉ, xây dựng cơ cấu ngành chính – ngành phụ (major/minor) mềm dẻo và định hình lại triết lý giáo dục nghệ thuật tiểu học theo hướng phát triển năng lực.
Bối cảnh và tầm quan trọng
Hiện trạng tri thức và khoảng trống nghiên cứu
Kể từ năm 1996, Âm nhạc và Mỹ thuật đã chính thức trở thành các môn học bắt buộc trong chương trình giáo dục tiểu học tại Việt Nam. Tuy nhiên, lý luận và thực tiễn phát triển chương trình đào tạo giáo viên nghệ thuật (GVNT) vẫn tồn tại khoảng trống lớn. Phần lớn các CTĐT sư phạm tại các trường cao đẳng, đại học vẫn vận hành theo quán tính của phương thức tiếp cận nội dung (content-based approach) từ nhiều thập kỷ trước, chủ yếu truyền thụ kỹ năng biểu diễn hoặc kỹ thuật tạo hình mang tính đơn ngành khép kín. Các công trình nghiên cứu trước đây chưa giải quyết được bài toán tích hợp liên môn và sự tương thích giữa năng lực đầu ra của cử nhân sư phạm với chuẩn phát triển tâm sinh lý thẩm mỹ của học sinh tiểu học.
Tính cấp thiết và thời điểm nghiên cứu
Bước vào thế kỷ XXI, chiến lược phát triển giáo dục đại học của Việt Nam đặt ra yêu cầu bức thiết về việc chuẩn hóa trình độ giáo viên tiểu học lên bậc đại học và chuyển đổi quy trình đào tạo sang học chế tín chỉ. Đứng trước yêu cầu đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, việc tiếp tục duy trì các khóa đào tạo chắp vá, ngắn hạn hoặc các chương trình cao đẳng sư phạm niên chế không còn phù hợp. Đề tài B2004-23-64 ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi cấp bách từ cả bình diện quản lý vĩ mô của Bộ Giáo dục & Đào tạo lẫn thực tế giảng dạy tại các đô thị lớn.
Tác động tiềm năng
Công trình mở ra hướng tiếp cận mới trong việc hoạch định chính sách giáo dục nghệ thuật, cung cấp cơ sở khoa học để các trường đại học sư phạm tái cấu trúc chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, thúc đẩy xã hội hóa việc bồi dưỡng năng khiếu và nâng cao chất lượng cảm thụ văn hóa - nghệ thuật cho các thế hệ học sinh tiểu học.
Methodology và approach
Đề tài áp dụng thiết kế nghiên cứu phức hợp (mixed-methods research design), kết hợp giữa nghiên cứu lý luận nền tảng, khảo sát thực nghiệm xã hội học và phân tích so sánh chương trình.
Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm tác giả đã hệ thống hóa và phân tích sâu các lý thuyết phát triển chương trình kinh điển trên thế giới:
- Mô hình Ralph Tyler (1949): Xác lập 4 câu hỏi nền tảng về mục tiêu, kinh nghiệm học tập, tổ chức trải nghiệm và đánh giá kết quả qua lăng kính triết lý giáo dục và tâm lý học.
- Mô hình quy nạp của Hilda Taba (1962): Quy trình 7 bước từ chẩn đoán nhu cầu, xác định mục tiêu, lựa chọn/tổ chức nội dung, đến thiết kế trải nghiệm và kiểm tra sự cân bằng.
- Mô hình Peter Oliva (1997) & Robert M. Diamond (1975): Khung tham chiếu 12 thành phần nhằm liên kết chặt chẽ mục tiêu đào tạo với chuẩn đo lường năng lực đầu ra.
Thu thập dữ liệu thực nghiệm
Nghiên cứu triển khai thu thập dữ liệu đa tầng tại TP.HCM từ tháng 10/2004 đến tháng 07/2006:
- Khảo sát hệ thống quản lý & cơ sở: Thu thập số liệu 576 lớp học thuộc 12 trường tiểu học trọng điểm tại Quận 1 (Hoà Bình, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đuốc Sống, Trần Hưng Đạo, Kết Đoàn,...).
- Khảo sát khách thể nghiên cứu (KTNC): Sử dụng phiếu điều tra cấu trúc theo thang đo Likert 5 mức độ trên 2 nhóm đối tượng:
- Nhóm giảng viên/giáo viên ($N = 68$): Gồm giảng viên ĐH Sư phạm, ĐH Mỹ thuật, ĐH Văn hóa, CĐSP TP.HCM, CĐ Sư phạm Mẫu giáo TW3 và giáo viên tiểu học.
- Nhóm sinh viên chuyên ngành ($N = 228$): Sinh viên năm cuối thuộc các hệ đào tạo sư phạm âm nhạc, mỹ thuật.
Kỹ thuật phân tích dữ liệu và độ tin cậy
Số liệu được số hóa và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS, sử dụng các thuật toán thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình $\bar{X}$) và thống kê suy diễn để phân nhóm các chiều kích: phẩm chất chính trị - đạo đức, năng lực thực hành chuyên môn, năng lực sư phạm và kỹ năng thiết kế bài giảng. Độ giá trị và độ tin cậy của nghiên cứu được bảo đảm nhờ sự đối chiếu chéo giữa dữ liệu định lượng của các cấp quản lý và phản hồi trực tiếp từ lực lượng đào tạo lẫn tiếp nhận đào tạo.
Phát hiện chính
Dữ liệu thực nghiệm của đề tài đã phản ánh bức tranh toàn diện và sâu sắc về những điểm nghẽn trong công tác đào tạo và sử dụng giáo viên nghệ thuật tiểu học:
1. Khủng hoảng thiếu hụt giáo viên chính quy và giải pháp "chắp vá"
Tại địa bàn Quận 1 – khu vực trung tâm có điều kiện giáo dục phát triển nhất TP.HCM, kết quả điều tra năm học 2003–2004 cho thấy:
- Môn Hát – Nhạc: 22 giáo viên biên chế chỉ đảm nhiệm được 440 lớp (76.4%), thiếu 07 giáo viên chuyên trách.
- Môn Mỹ thuật: Tình trạng nghiêm trọng hơn khi có tới 6/12 trường (50%) hoàn toàn không có giáo viên Mỹ thuật chính quy; 16 giáo viên hiện có chỉ đáp ứng 320 lớp (55.5%), thiếu 13 giáo viên.
- Để lấp chỗ trống, các trường đã điều động 73 giáo viên chủ nhiệm (GVCN) kiêm nhiệm dạy Mỹ thuật và 27 GVCN dạy Hát – Nhạc. Việc sử dụng giáo viên chưa qua đào tạo bài bản dẫn đến chất lượng giảng dạy bị đánh giá ở mức trung bình (28.46%) và yếu (6.15%), tiết học biến thành giờ "chữa cháy" mang tính chiếu lệ.
2. Sự lệch chuẩn về mục tiêu giáo dục nghệ thuật tiểu học
Khảo sát tiêu chuẩn đánh giá kết quả học tập của học sinh cho thấy 86.15% giáo viên chỉ chú trọng vào kỹ năng thực hành thao tác (tập hát đúng nốt, vẽ theo mẫu, nặn tượng), trong khi chỉ có 30.77% quan tâm đến giáo dục kiến thức thưởng thức nghệ thuật. Điều này chỉ ra một nghịch lý: tiết học chính khóa 35 phút quý giá bị lãng phí vào việc rèn luyện kỹ năng chuyên môn – vốn là nội dung phù hợp cho các câu lạc bộ ngoại khóa, thay vì bồi dưỡng cảm xúc, thẩm mỹ và thị hiếu nghệ thuật cho đại trà học sinh.
3. Hạn chế cốt tử của chương trình đào tạo cao đẳng/đại học hiện hành
Phân tích các CTĐT sư phạm âm nhạc và mỹ thuật tại TP.HCM chỉ ra các rào cản:
- Tính chất đơn ngành và cứng nhắc: Chương trình được thiết kế theo hướng tiếp cận nội dung, chú trọng các môn kỹ thuật sâu (Ký xướng âm, Hình họa chiếm tới 15–225 tiết), thiếu vắng các học phần tích hợp liên ngành (sân khấu, múa, điện ảnh, nghệ thuật truyền thống).
- Quá tải thời lượng: Sinh viên phải lên lớp trung bình 26 tiết/tuần. Nếu áp dụng quy chuẩn 1 tiết lên lớp cần 2 tiết tự học thì sinh viên phải làm việc 78 tiết/tuần, triệt tiêu hoàn toàn quỹ thời gian tự nghiên cứu và sáng tạo cá nhân.
- Thiếu đào tạo đa năng: CTĐT chỉ có ngành chính (major), không có cơ chế học ngành phụ (minor) hoặc tích hợp văn bằng 2, khiến sinh viên tốt nghiệp thiếu khả năng thích ứng linh hoạt với môi trường tiểu học.
4. Bảng chuẩn hóa phẩm chất và năng lực của giáo viên nghệ thuật
Khảo sát ý kiến của 68 giáo viên và 228 sinh viên về các phẩm chất ưu tiên của GVNT (thang điểm 5) đã xác lập các thứ hạng rõ rệt:
| Nhóm Tiêu Chí / Phẩm Chất |
Điểm Đánh Giá ($\bar{X}$) |
Xếp Loại Mức Độ |
| Trách nhiệm giảng dạy & Phát huy hết khả năng của HS |
$4.68$ |
Rất quan trọng (Cao) |
| Ý thức luôn tự học và rèn luyện hoàn thiện bản thân |
$4.55$ |
Rất quan trọng (Cao) |
| Tác phong sư phạm chuẩn mực, là tấm gương đạo đức |
$4.38$ |
Quan trọng (Cao) |
| Năng lực chuyên môn thực hành nghệ thuật (vẽ/hát/đàn) |
$4.25$ |
Quan trọng (Cao) |
| Kỹ năng sư phạm: Đặt câu hỏi gợi mở, khơi gợi sáng tạo |
$4.10$ |
Quan trọng (Cao) |
| Ứng dụng công nghệ và thiết kế giáo cụ trực quan hiệu quả |
$3.95$ |
Khá |
| Kiến thức văn hóa nghệ thuật liên ngành tổng hợp |
$3.65$ |
Khá |
| Nắm vững quan điểm lý luận chính trị Mác - Lênin |
$2.62$ |
Trung bình |
Đóng góp khoa học
Đóng góp về mặt lý luận
Đề tài là một trong những công trình tiên phong tại Việt Nam vận dụng có hệ thống các lý thuyết phát triển chương trình quốc tế (Tyler, Taba, Oliva) vào lĩnh vực đào tạo giáo viên nghệ thuật. Nghiên cứu đã làm rõ sự chuyển dịch tất yếu từ cách tiếp cận nội dung (Content-based) sang cách tiếp cận phát triển (Development-based) trong đào tạo sư phạm, cung cấp định nghĩa chuẩn xác về các thành tố cấu trúc của một CTĐT hiện đại.
Đổi mới về phương pháp luận
Công trình thiết lập bộ công cụ đánh giá nhu cầu (needs assessment) toàn diện gồm 14 bước tiêu chuẩn, tích hợp phương pháp phân tích chéo giữa đơn vị đào tạo sư phạm với đơn vị thụ hưởng (trường tiểu học), tạo tiền lệ khoa học cho các nghiên cứu thẩm định chương trình sau này.
Ý nghĩa thực tiễn và chính sách
- Đặt nền móng cho việc chuyển đổi CTĐT giáo viên âm nhạc và mỹ thuật từ niên chế sang học chế tín chỉ.
- Đề xuất giải pháp kiến trúc chương trình tích hợp mô-đun: Giảm tải khối lượng giờ giảng lý thuyết trên lớp, gia tăng tỷ trọng học phần tự chọn, thiết kế các chứng chỉ chuyên môn phụ (minor) giúp một giáo viên có thể đảm nhiệm dạy song môn hoặc tổ chức hoạt động thẩm mỹ đa dạng.
- Cung cấp luận cứ thực chứng để Sở Giáo dục & Đào tạo TP.HCM và Bộ GD&ĐT quy hoạch lại chỉ tiêu đào tạo cử nhân sư phạm nghệ thuật chính quy.
Đối tượng quan tâm và giá trị ứng dụng
-
Các nhà hoạch định chính sách & Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ GD&ĐT, các Sở GD&ĐT):
- Cung cấp số liệu thực chứng phục vụ việc xây dựng quy chuẩn chức danh nghề nghiệp và lộ trình nâng chuẩn trình độ cử nhân cho giáo viên tiểu học.
- Hướng dẫn chỉ đạo đổi mới đồng bộ giữa chương trình đào tạo sư phạm và chương trình sách giáo khoa phổ thông.
-
Ban Giám hiệu, Trưởng khoa các trường Đại học/Cao đẳng Sư phạm:
- Khung cấu trúc mẫu để phân bổ lại tỷ trọng giữa kiến thức đại cương, cơ sở ngành và chuyên ngành theo hệ thống tín chỉ.
- Cẩm nang thiết kế các học phần tự chọn mang tính ứng dụng cao, tích hợp công nghệ giảng dạy trực quan.
-
Giảng viên và Nghiên cứu sinh ngành Giáo dục học / Lý luận & PPDH:
- Tài liệu tham khảo học thuật giá trị về mô hình phát triển chương trình và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm trong sư phạm nghệ thuật.
-
Hiệu trưởng và Giáo viên các trường Tiểu học:
- Định vị lại phương pháp tổ chức môn học: Đưa việc huấn luyện kỹ năng chuyên sâu vào hệ thống Câu lạc bộ sở thích, dành giờ học chính khóa cho việc bồi dưỡng năng lực thẩm mỹ và cảm thụ cái đẹp.
Câu hỏi thường gặp (FAQ)
1. Phát hiện mang tính đột phá nhất của nghiên cứu là gì?
Nghiên cứu chỉ ra sự "lệch pha" căn bản: Chương trình phổ thông đang gánh vác sai chức năng khi biến giờ học nghệ thuật chính khóa 35 phút thành giờ luyện kỹ năng thực hành đơn thuần (hát, vẽ cơ học), trong khi mục tiêu cốt lõi là giáo dục thẩm mỹ và năng lực cảm thụ cái đẹp lại bị xem nhẹ. Đồng thời, nghiên cứu phơi bày thực trạng 50% trường tiểu học thiếu giáo viên Mỹ thuật chính quy.
2. Phương pháp tiếp cận xây dựng chương trình có điểm gì mới?
Đề tài chuyển đổi từ cách tiếp cận truyền thụ nội dung xơ cứng sang cách tiếp cận phát triển (development-based approach) theo học chế tín chỉ. Cấu trúc chương trình được module hóa mềm dẻo, cho phép sinh viên tích lũy tín chỉ linh hoạt, học song ngành hoặc bổ sung ngành phụ (minor).
3. Kết quả khảo sát tại Quận 1, TP.HCM có thể khái quát hóa (generalize) cho các địa phương khác không?
Có tính đại diện cao. Quận 1 là trung tâm kinh tế - giáo dục phát triển nhất cả nước mà vẫn đối mặt với khủng hoảng thiếu hụt 50% giáo viên mỹ thuật chính quy, điều này chứng minh tình trạng tại các tỉnh thành khác hoặc khu vực nông thôn chắc chắn sẽ còn thiếu thốn và bất cập trầm trọng hơn.
4. Đề tài đề xuất những bước tiếp theo nào cho nghiên cứu giáo dục nghệ thuật?
Cần tiến hành nghiên cứu thiết kế chi tiết đề cương chi tiết từng học phần (syllabus) theo hệ thống tín chỉ; biên soạn bộ sách hướng dẫn giáo dục cảm thụ thẩm mỹ liên ngành; và thử nghiệm mô hình câu lạc bộ nghệ thuật ngoại khóa tại các trường tiểu học đô thị.
5. Những ứng dụng thực tiễn ngay lập tức của công trình là gì?
Các trường sư phạm có thể sử dụng ngay khung ma trận mục tiêu đào tạo để cắt giảm tải các môn lý thuyết đơn ngành nặng nề, bổ sung các môn kỹ năng sư phạm tương tác, và tổ chức các lớp bồi dưỡng chuẩn hóa năng lực giáo dục thẩm mỹ cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm đang phải kiêm nhiệm.
Kết luận
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ mã số B2004-23-64 do ThS. Lê Anh Cường chủ nhiệm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc cho việc đổi mới đào tạo giáo viên nghệ thuật tiểu học. Bằng việc phân tích sâu sắc các mô hình phát triển chương trình quốc tế và phơi bày thực trạng thiếu hụt đội ngũ tại cơ sở, công trình khẳng định tính tất yếu của việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ, tái cấu trúc chương trình theo hướng mềm dẻo và định vị lại mục tiêu giáo dục thẩm mỹ toàn diện.
Trong bối cảnh toàn ngành giáo dục đang nỗ lực đổi mới căn bản và toàn diện, những kiến nghị và phương hướng từ công trình này chính là kim chỉ nam giá trị để các cơ sở giáo dục đại học nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cử nhân sư phạm nghệ thuật, góp phần kiến tạo nền tảng văn hóa và thẩm mỹ vững chắc cho các thế hệ tương lai.