Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh giáo dục thế kỷ XXI, sáng tạo được xác định là một trong những năng lực cốt lõi bên cạnh năng lực hợp tác, công nghệ thông tin và giải quyết vấn đề. Đối với giáo dục phổ thông tại Việt Nam, quá trình đổi mới căn bản và toàn diện đang chuyển mạnh từ việc trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực cho người học. Môn Mỹ thuật trong nhà trường phổ thông giữ vai trò trọng yếu trong việc bồi dưỡng năng lực thẩm mỹ và kích thích tiềm năng sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên, thực tiễn dạy học phổ thông còn tồn tại bất cập khi chủ yếu chú trọng phát triển trí tuệ và vốn hiểu biết lý thuyết, chưa quan tâm đúng mức đến giáo dục nghệ thuật và rèn luyện tính sáng tạo.
Sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật là đội ngũ giáo viên tương lai, giữ vai trò "kép": tính sáng tạo vừa là điều kiện để các em chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng nghề nghiệp nhằm hoàn thiện nhân cách người giáo viên nghệ thuật, vừa là công cụ sư phạm để định hướng thị hiếu thẩm mỹ và khơi gợi tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông. Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam (như nghiên cứu của Nguyễn Huy Tú năm 2006, Nguyễn Thị Liên năm 2014) chỉ ra rằng tính sáng tạo của sinh viên sư phạm nói chung chủ yếu ở mức trung bình và dưới trung bình.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Các nghiên cứu tâm lý học về sáng tạo ở Việt Nam phần lớn mới tiếp cận đo lường chỉ số sáng tạo chung (CQ) qua các nghiệm pháp ngôn ngữ hoặc hình vẽ chuyển giao từ nước ngoài, thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên sâu về tính sáng tạo trong các hoạt động đặc thù như hoạt động tạo hình (Hội họa) gắn liền với nghiệp vụ sư phạm nghệ thuật.
Mục tiêu, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực trạng mức độ biểu hiện tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật cùng các yếu tố ảnh hưởng; trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp tâm lý - giáo dục nhằm nâng cao tính sáng tạo cho sinh viên.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật.
- Xây dựng cơ sở lý luận về tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng mức độ biểu hiện tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó.
- Đề xuất các biện pháp tâm lý - giáo dục nhằm nâng cao tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình cho sinh viên.
- Giả thuyết khoa học: Tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật hiện nay ở mức độ trung bình. Tính sáng tạo này chịu ảnh hưởng bởi cả các yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó tính tích cực hoạt động của sinh viên, môi trường sư phạm nghệ thuật và hứng thú, đam mê tìm kiếm ý tưởng tạo hình là những yếu tố có tác động mạnh nhất.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật.
- Khách thể nghiên cứu: 280 sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ tư thuộc Khoa Sư phạm Mỹ thuật và 35 giảng viên thuộc Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Khoa Tâm lý - Giáo dục của Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung đo lường tính sáng tạo qua hai mảng hoạt động: Ngôn ngữ tạo hình Mỹ thuật (giới hạn ở các phương tiện ngôn ngữ đặc trưng của loại hình Hội họa) và Hoạt động giáo dục Mỹ thuật (giải quyết các bài tập, tình huống sư phạm chuyên ngành).
- Địa bàn nghiên cứu: Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương (Hà Nội).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trên thế giới
Tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế theo bốn hướng tiếp cận chính:
- Tiếp cận dưới góc độ quá trình: Mô hình 4 giai đoạn của Graham Wallas (1926) gồm Chuẩn bị, Ấp ủ, Bừng sáng/Thấu hiểu, Đánh giá và cụ thể hóa; mô hình 4 bước của Hogarth (1980); lý thuyết "Dòng sáng tạo" (Flow) của Mihaly Csikszentmihalyi (1996); quan điểm sáng tạo là quá trình giải quyết vấn đề của Arnold Toynbee (1964) và Joy Paul Guilford (1967); quan niệm về tư duy chiều ngang và tư duy chiều dọc của Edward de Bono (1967, 1982, 1985).
- Tiếp cận dưới góc độ sản phẩm: Phân loại sản phẩm sáng tạo cụ thể và sản phẩm tư duy của Guilford (1967); phân cấp sáng tạo của Irving A. Taylor (1959); công cụ "6 chiếc mũ tư duy" của Edward de Bono (1985); quan điểm sản phẩm sáng tạo phải đảm bảo tính mới, tính độc đáo và tính tối lợi của Klaus K. Urban (2004).
- Tiếp cận dưới góc độ thuộc tính nhân cách: Khái niệm "tình huống không xác định" và lòng dũng cảm của Donald W. MacKinnon (1975, 1978); nghiên cứu về trí tưởng tượng tự do của Ellis Paul Torrance (1963, 1979, 1995); tính mềm dẻo và linh hoạt của Smith và Ammer (1997); khả năng chấp nhận sự hỗn độn của Frank X. Barron (1952, 1995); lý thuyết đa biến về sự sáng tạo của Robert J. Sternberg và Todd I. Lubart (1996).
- Tiếp cận theo lý thuyết thành tố: Lý thuyết thành tố sáng tạo của Teresa M. Amabile (1983) gồm 3 thành tố: kỹ năng lĩnh vực phù hợp, kỹ năng sáng tạo phù hợp và động cơ công việc; Học thuyết đầu tư về sáng tạo của Sternberg và Lubart (1996) với 6 nguồn lực: khả năng trí óc, kiến thức, cách tư duy, cá tính, động lực thúc đẩy và môi trường.
Về tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình, luận án điểm lại các công trình của Brown và cộng sự (2009), Alter (2010), Chương trình giáo dục nghệ thuật của bang Ontario - Canada (2009, 2010), Elliot W. Eisner (2002), Shari Tishman (2006), Elizabeth Delacruz (1997), Howard Gardner (1993), Nicholas Roukes (1988), Arthur D. Efland (2002), Hall, Thompson và Hood (2006) với dự án "Chân dung bản thân", Corcoran (2006), Burton, Horowitz và Abeles (1999).
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
Các công trình tại Việt Nam được điểm lại gồm:
- Nghiên cứu bản chất tâm lý học của sáng tạo: Nguyễn Đức Uy (1999, 2008), Phạm Thành Nghị và Nguyễn Huy Tú (1993), Hoàng Chúng (1991), Huỳnh Văn Sơn (2009), Lê Nam Hải và Hà Thị Hoài Hương (2011).
- Nghiên cứu đo lường tính sáng tạo và các yếu tố ảnh hưởng: Nguyễn Huy Tú (2005, 2006) thích nghi và ứng dụng trắc nghiệm TCT-DP của Klaus K. Urban tại Việt Nam; Nguyễn Công Khanh và cộng sự (2007) khảo sát chỉ số sáng tạo sinh viên dựa trên bài trắc nghiệm STAT-A của Sternberg; Trương Thị Bích Hà (1999) nghiên cứu khả năng tưởng tượng sáng tạo của sinh viên sân khấu điện ảnh; Đặng Thị Vân (2011) đo lường chỉ số sáng tạo của sinh viên nông nghiệp; Bùi Tuấn Anh (2012) đánh giá tính sáng tạo của học viên sĩ quan bằng trắc nghiệm TCT-DP; Trần Văn Tính (2012) nghiên cứu trẻ mẫu giáo bằng trắc nghiệm KVS-P và bài tập KCAT; Nguyễn Thị Liên (2014) khảo sát trí sáng tạo của sinh viên sư phạm tiểu học bằng trắc nghiệm TCT-DP kết hợp bài tập đo nghiệm; Phạm Thành Nghị (2013) nghiên cứu tính sáng tạo trong tổ chức doanh nghiệp.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Luận án kế thừa cách tiếp cận đo lường phối hợp giữa trắc nghiệm chuẩn hóa quốc tế và hệ thống bài tập thực hành nghiệp vụ chuyên ngành. Luận án giải quyết khoảng trống về việc xác định cấu trúc tâm lý, tiêu chí đo lường và xây dựng bộ công cụ chuẩn hóa đánh giá tính sáng tạo chuyên biệt cho hoạt động tạo hình của sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung phân tích
- Nguyên tắc phương pháp luận: Dựa trên Tâm lý học hoạt động, bao gồm:
- Nguyên tắc tiếp cận hoạt động - nhân cách: Xem tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình là thuộc tính nhân cách được hình thành, biến đổi và phát triển trong hoạt động học tập và rèn luyện nghề dạy học Mỹ thuật.
- Nguyên tắc tiếp cận phát triển: Đánh giá tính sáng tạo trong sự vận động liên tục từ thấp đến cao qua các năm học và quá trình rèn luyện chuyên môn.
- Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Đánh giá tính sáng tạo trong mối tương quan đa chiều giữa các yếu tố chủ quan (hứng thú, kỹ năng, tính tích cực) và khách quan (môi trường sư phạm, phương pháp giảng dạy, chương trình đào tạo).
- Khái niệm cốt lõi: Tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật là thuộc tính nhân cách biểu hiện ở khả năng tạo ra các ý tưởng, giải pháp và sản phẩm tạo hình mới mẻ, độc đáo, linh hoạt và có giá trị thẩm mỹ, sư phạm trong việc sử dụng ngôn ngữ tạo hình (Hội họa) và giải quyết các nhiệm vụ giáo dục Mỹ thuật.
- Tiêu chí đánh giá tính sáng tạo: Gồm 3 tiêu chí:
- Tính độc đáo: Khả năng đưa ra các ý tưởng, hình tượng, giải pháp tạo hình và cách xử lý sư phạm mới lạ, hiếm gặp, không rập khuôn.
- Tính mềm dẻo, linh hoạt: Khả năng biến đổi linh hoạt các phương tiện tạo hình, chuyển đổi góc nhìn, tìm kiếm nhiều phương án giải quyết khác nhau cho một nhiệm vụ tạo hình hoặc tình huống sư phạm.
- Tính hiệu quả: Đảm bảo giá trị biểu đạt thẩm mỹ của tác phẩm hội họa, tính khả thi và hiệu quả sư phạm trong hoạt động dạy học Mỹ thuật.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Nghiên cứu kết hợp phương pháp định lượng và định tính:
- Phương pháp trắc nghiệm: Sử dụng trắc nghiệm tư duy sáng tạo vẽ hình TCT-DP (Test for Creative Thinking - Drawing Production) của Klaus K. Urban (Nguyễn Huy Tú thích nghi sang tiếng Việt), gồm 14 phạm trù đánh giá: Mở rộng thêm (Mr), Bổ sung thêm (Bs), Phần tử mới (Pm), Liên kết theo hình vẽ (Lkh), Liên kết theo đề tài (Lđt), Vượt khung do họa tiết (Vh), Vượt khung không phụ thuộc họa tiết (Vkh), Sự phối cảnh (Pc), Hài cảm (Hc), Tính bất quy tắc A (BqA), Tính bất quy tắc B (BqB), Tính bất quy tắc C (BqC), Tính bất quy tắc D (BqD), Thời gian (Tg). Tổng điểm tối đa là 72 điểm, phân loại thành 7 mức độ từ A đến G.
- Phương pháp bài tập đo nghiệm (HTBTĐN): Tác giả tự thiết kế hệ thống 18 bài tập đo nghiệm đo lường 3 tiêu chí (Độc đáo, Mềm dẻo, Hiệu quả) trên 2 lĩnh vực: Ngôn ngữ tạo hình Mỹ thuật (NNTH) và Hoạt động giáo dục Mỹ thuật (HĐGDMT). Hệ thống bài tập được kiểm định độ khó, độ phân biệt bằng mô hình Rasch qua phần mềm ConQuest, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến gồm 33 mệnh đề (thang đo Likert 5 mức độ từ 1 = Hoàn toàn không đúng đến 5 = Hoàn toàn đúng) khảo sát 8 yếu tố ảnh hưởng chủ quan và khách quan.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn sinh viên và giảng viên về các yếu tố thúc đẩy, rào cản sáng tạo và các giải pháp sư phạm.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động và phân tích chân dung tâm lý: Phân tích các bài vẽ, phương án bố cục tranh và giáo án, giải pháp sư phạm của sinh viên điển hình.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS (thống kê mô tả, kiểm định ANOVA, kiểm nghiệm sau ANOVA bằng Tukey HSD, tương quan Pearson, phân tích hồi quy đơn biến và hồi quy đa biến Stepwise).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các xu hướng nghiên cứu lý luận và thực nghiệm về sáng tạo trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích các mô hình cấu trúc sáng tạo của Wallas, Guilford, Torrance, Amabile, Sternberg và Urban, đồng thời chỉ ra tính đặc thù của hoạt động tạo hình trong môi trường đào tạo giáo viên nghệ thuật. Chương này khẳng định tính sáng tạo của sinh viên sư phạm mỹ thuật chưa được khảo cứu thấu đáo bằng các công cụ đo lường chuyên biệt gắn liền với thực tiễn đào tạo mỹ thuật tại Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lý luận về tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật
Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ, bản chất hoạt động tạo hình của sinh viên sư phạm mỹ thuật, và xác lập khung lý thuyết cho đề tài:
- Tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của sinh viên thể hiện qua hai mặt tương hỗ: (1) Năng lực sử dụng ngôn ngữ tạo hình hội họa (đường nét, mảng, hình, màu sắc, bố cục, đậm nhạt) và (2) Năng lực tiến hành hoạt động giáo dục mỹ thuật (xây dựng phương pháp dạy học, thiết kế tình huống giáo dục thẩm mỹ).
- Xác lập bộ 3 tiêu chí đánh giá: Tính độc đáo, Tính mềm dẻo/linh hoạt, Tính hiệu quả.
- Phân tích hệ thống các yếu tố ảnh hưởng gồm 5 yếu tố chủ quan (Hứng thú tạo hình; Hứng thú giáo dục mỹ thuật; Kỹ năng lĩnh vực; Kỹ năng sáng tạo; Tính tích cực hoạt động) và 3 yếu tố khách quan (Môi trường sư phạm nghệ thuật; Phương pháp giảng dạy của giảng viên; Chương trình đào tạo).
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày quy trình tổ chức thực nghiệm qua 3 giai đoạn và quy chuẩn hóa các công cụ khảo sát:
- Chuẩn hóa hệ thống bài tập đo nghiệm (HTBTĐN): Sử dụng phần mềm ConQuest kiểm định 18 bài tập đo nghiệm trên 100 sinh viên thử nghiệm. Kết quả cho thấy hệ số phân biệt của các bài tập dao động từ 0.21 đến 0.57; chỉ số Weighted MNSQ nằm trong giới hạn cho phép (từ 0.38 đến 1.93).
- Phân loại mức độ sáng tạo theo chuẩn trắc nghiệm TCT-DP của Klaus K. Urban:
| Mức độ |
Ký hiệu |
Khoảng điểm tổng TCT-DP |
Đặc điểm phân loại năng lực |
| Kém |
A |
< 18 điểm |
Năng lực sáng tạo rất hạn chế |
| Thấp |
B |
18 – 22 điểm |
Dưới mức trung bình |
| Trung bình |
C |
23 – 36 điểm |
Mức độ phổ biến ở quần thể |
| Trung bình khá |
D |
37 – 45 điểm |
Bắt đầu bộc lộ các ý tưởng mới |
| Khá |
E |
46 – 53 điểm |
Năng lực sáng tạo rõ nét |
| Cao |
F |
54 – 63 điểm |
Năng lực sáng tạo nổi trội |
| Cực cao |
G |
> 63 điểm |
Mức độ xuất sắc, hiếm gặp |
- Kiểm tra độ tin cậy thang đo bảng hỏi: Các nhóm thang đo khảo sát yếu tố chủ quan và khách quan đều đạt hệ số Cronbach's Alpha cao, phân tích nhân tố EFA cho giá trị KMO đạt chuẩn và hội tụ rõ ràng.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực trạng tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật
Chương 4 trình bày các phát hiện định lượng và định tính từ khảo sát 280 sinh viên và 35 giảng viên:
- Thực trạng tính sáng tạo qua trắc nghiệm TCT-DP: Điểm trung bình tính sáng tạo tổng quát của sinh viên đạt $M = 32.00$ điểm ($SD = 8.97$), nằm trong khoảng 23–36 điểm (Mức C - Trung bình theo chuẩn Urban). Phân tích ANOVA cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ sáng tạo giữa các năm học ($p < 0.05$), trong đó sinh viên năm thứ 3 và năm thứ 4 có xu hướng đạt điểm trung bình cao hơn sinh viên năm thứ nhất.
- Thực trạng tính sáng tạo qua Hệ thống bài tập đo nghiệm (HTBTĐN): Điểm trung bình tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình đạt mức trung bình (dao động từ 84.01 đến 86.25 điểm giữa các năm học; sinh viên xếp loại học lực Giỏi đạt điểm trung bình sáng tạo cao hơn nhóm Khá và Trung bình).
- Mối tương quan giữa hai công cụ: Tồn tại mối tương quan thuận, có ý nghĩa thống kê ở mức $p < 0.01$ giữa kết quả đo bằng HTBTĐN và kết quả trắc nghiệm TCT-DP ($r > 0$).
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng: Kết quả phân tích hồi quy đa biến từng bước (Stepwise Multiple Regression) xác định mô hình dự báo tối ưu gồm 3 yếu tố có tác động mạnh nhất và có ý nghĩa thống kê đến tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình:
$$\text{Tính sáng tạo} = f(\text{Tính tích cực hoạt động}, \text{Môi trường sư phạm nghệ thuật}, \text{Hứng thú tìm kiếm ý tưởng tạo hình})$$
Bảng mô hình hồi quy đa biến các yếu tố ảnh hưởng:
| Mô hình |
Yếu tố dự báo được đưa vào |
$R$ |
$R^2$ |
$R^2$ hiệu chỉnh |
Sai số chuẩn của ước lượng |
| 1 |
Tính tích cực hoạt động của sinh viên |
0.506 |
0.256 |
0.253 |
7.788 |
| 2 |
Môi trường sư phạm nghệ thuật |
0.557 |
0.310 |
0.305 |
7.514 |
| 3 |
Hứng thú tìm kiếm ý tưởng tạo hình |
0.579 |
0.335 |
0.328 |
7.391 |
- Phân tích định tính và chân dung sinh viên sáng tạo: Qua phỏng vấn sâu và phân tích sản phẩm tạo hình, sinh viên có tính sáng tạo cao bộc lộ rõ sự vượt khung trong tư duy tạo hình, khả năng phối màu phi truyền thống, nhạy bén trong xử lý tình huống sư phạm thực hành và có tính độc lập cao trong tư duy thẩm mỹ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Làm rõ khái niệm, cấu trúc tâm lý của tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật, xác định tính sáng tạo biểu hiện đồng thời qua hai hình thức: Ngôn ngữ tạo hình Mỹ thuật (Hội họa) và Hoạt động giáo dục Mỹ thuật.
- Xây dựng và chuẩn hóa hệ thống 3 tiêu chí đánh giá tính sáng tạo chuyên ngành: Tính độc đáo, Tính mềm dẻo/linh hoạt, và Tính hiệu quả.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Thiết kế và chuẩn hóa bộ công cụ đo nghiệm chuyên biệt gồm 18 bài tập đo nghiệm (HTBTĐN) được thẩm định qua mô hình lý thuyết ứng đáp câu hỏi (IRT - phần mềm ConQuest) và phân tích tâm trắc học.
- Cung cấp dữ liệu thực chứng khẳng định thực trạng tính sáng tạo của sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật đạt mức trung bình ($M = 32.00$ theo TCT-DP), trong đó tỷ lệ sinh viên ở nhóm điểm khá cao nhiều hơn nhóm điểm thấp và có sự phân hóa theo năm đào tạo và kết quả học tập.
- Xác định mô hình định lượng các yếu tố tác động, chỉ ra 3 nhân tố chi phối mạnh nhất: Tính tích cực hoạt động của sinh viên, Môi trường sư phạm nghệ thuật, và Hứng thú đam mê tìm kiếm ý tưởng tạo hình.
- Đề xuất 03 nhóm biện pháp tâm lý - giáo dục:
- Nhóm 1: Biện pháp nâng cao hứng thú, đam mê sáng tác tạo hình và thúc đẩy tính tích cực, tự giác rèn luyện của sinh viên.
- Nhóm 2: Đổi mới phương pháp dạy học của giảng viên, tăng cường giao bài tập tình huống có vấn đề, kích thích tư duy phân kỳ và khuyến khích sinh viên thử nghiệm các giải pháp tạo hình mới.
- Nhóm 3: Xây dựng môi trường sư phạm nghệ thuật thuận lợi, cải thiện cơ sở vật chất, phòng thực hành, định kỳ tổ chức triển lãm, hội thi nghiệp vụ và có cơ chế khen thưởng kịp thời các sáng kiến tạo hình.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Khách thể khảo sát thực nghiệm tập trung chủ yếu tại một cơ sở đào tạo là Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, chưa mở rộng khảo sát so sánh liên trường trên các cơ sở đào tạo sư phạm mỹ thuật khác trong toàn quốc.
- Về phạm vi chuyên môn, luận án mới chỉ tập trung sâu vào phương tiện ngôn ngữ tạo hình của loại hình Hội họa, chưa bao quát toàn diện các phân môn tạo hình khác như Điêu khắc, Đồ họa hay Thiết kế ứng dụng.
- Đề tài tập trung vào nghiên cứu mô tả cắt ngang thực trạng và đề xuất biện pháp, chưa triển khai thực nghiệm sư phạm hình thành (can thiệp tác động dọc) để kiểm chứng hiệu quả thực tế của 03 biện pháp đề xuất.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi khảo sát trên quy mô toàn quốc và so sánh tính sáng tạo giữa sinh viên sư phạm mỹ thuật với sinh viên các trường mỹ thuật chuyên nghiệp (mỹ thuật thuần túy).
- Triển khai thực nghiệm sư phạm ứng dụng các biện pháp tâm lý - giáo dục đã đề xuất trong chương trình đào tạo để đo lường mức độ chuyển biến tính sáng tạo của sinh viên theo thời gian.
Giá trị tham khảo
Luận án cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Tâm lý học và Giáo dục học: Tham khảo khung lý thuyết tâm lý học hoạt động ứng dụng trong nghệ thuật, quy trình chuẩn hóa công cụ đo nghiệm tâm lý kết hợp trắc nghiệm chuẩn hóa quốc tế (TCT-DP) với bài tập chuyên môn (HTBTĐN qua phần mềm ConQuest và SPSS).
- Giảng viên các trường đào tạo nghệ thuật và sư phạm nghệ thuật: Ứng dụng hệ thống tiêu chí (Độc đáo, Mềm dẻo, Hiệu quả) và 18 bài tập đo nghiệm để đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá và thiết kế bài giảng phát triển tư duy sáng tạo cho người học.
- Nhà quản lý giáo dục và người xây dựng chương trình đào tạo: Tham khảo dữ liệu thực nghiệm về các yếu tố môi trường sư phạm và tính tích cực học tập để hoạch định chính sách đầu tư cơ sở vật chất, không gian xưởng họa và tổ chức hoạt động phong trào chuyên môn.
Câu hỏi thường gặp
1. Tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật được cấu thành từ những mặt nào?
Tính sáng tạo của đối tượng này mang tính chất "kép", thể hiện đồng thời qua hai mặt: (1) Khả năng vận dụng sáng tạo các phương tiện Ngôn ngữ tạo hình Mỹ thuật (đường nét, hình khối, màu sắc, bố cục trong Hội họa) và (2) Khả năng giải quyết linh hoạt, độc đáo các nhiệm vụ trong Hoạt động giáo dục Mỹ thuật (phương pháp dạy học, thiết kế tình huống sư phạm mỹ thuật). Cả hai mặt đều được đánh giá qua 3 tiêu chí: Tính độc đáo, Tính mềm dẻo/linh hoạt và Tính hiệu quả.
2. Bộ công cụ nào được sử dụng để đánh giá thực trạng tính sáng tạo trong luận án?
Luận án sử dụng kết hợp hai công cụ chính:
- Trắc nghiệm tư duy sáng tạo vẽ hình TCT-DP (Test for Creative Thinking - Drawing Production) của Klaus K. Urban gồm 14 chỉ số đánh giá, thang điểm tối đa 72 điểm.
- Hệ thống bài tập đo nghiệm (HTBTĐN) gồm 18 bài tập do tác giả thiết kế chuyên biệt cho chuyên ngành Sư phạm Mỹ thuật, được kiểm định độ phân biệt và độ khó bằng phần mềm ConQuest theo mô hình Rasch và kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha.
3. Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật theo kết quả khảo sát thực tế như thế nào?
Theo kết quả trắc nghiệm TCT-DP, điểm trung bình của sinh viên đạt $M = 32.00$ điểm ($SD = 8.97$), xếp loại ở mức C (mức Trung bình theo chuẩn Urban). Kết quả đo bằng hệ thống bài tập đo nghiệm cũng phản ánh mức độ trung bình. Tuy nhiên, tỷ lệ sinh viên ở nhóm điểm khá cao chiếm tỷ lệ lớn hơn nhóm điểm thấp và có sự gia tăng điểm số sáng tạo rõ rệt ở các sinh viên năm học cuối và sinh viên có học lực khá, giỏi.
4. Những yếu tố nào tác động mạnh nhất đến tính sáng tạo của sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật?
Qua phân tích hồi quy đa biến từng bước (Stepwise Regression), mô hình xác định 3 yếu tố dự báo có ảnh hưởng mạnh nhất và có ý nghĩa thống kê đến tính sáng tạo gồm: (1) Tính tích cực hoạt động của sinh viên ($R^2 = 0.256$), (2) Môi trường sư phạm nghệ thuật ($R^2$ tăng lên $0.310$), và (3) Hứng thú, đam mê tìm kiếm ý tưởng tạo hình ($R^2$ tăng lên $0.335$).
5. Luận án đề xuất những biện pháp tâm lý - giáo dục nào để nâng cao tính sáng tạo cho sinh viên?
Tác giả đề xuất 03 nhóm biện pháp:
- Nâng cao hứng thú, đam mê tìm kiếm ý tưởng tạo hình và phát huy tính tích cực tự giác rèn luyện của sinh viên.
- Đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên theo hướng dạy học giải quyết vấn đề, khuyến khích sinh viên đưa ra nhiều ý tưởng độc đáo, mới lạ và không rập khuôn.
- Xây dựng và hoàn thiện môi trường sư phạm nghệ thuật tại cơ sở đào tạo (tăng cường trang thiết bị xưởng họa, tổ chức triển lãm, hội thi nghiệp vụ sư phạm và xây dựng quy chế khen thưởng kịp thời).
Kết luận
Luận án của tác giả Lương Thị Thanh Hải là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Tâm lý học xã hội, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực nghiệm về tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của sinh viên ngành Sư phạm Mỹ thuật. Bằng việc kết hợp trắc nghiệm chuẩn hóa quốc tế TCT-DP và hệ thống 18 bài tập đo nghiệm tự xây dựng được kiểm định qua mô hình Rasch, luận án khẳng định tính sáng tạo của khách thể nghiên cứu đạt mức trung bình và chịu tác động mạnh nhất bởi tính tích cực hoạt động, môi trường sư phạm nghệ thuật cùng hứng thú tạo hình. Các kết quả thực chứng và 03 nhóm biện pháp tâm lý - giáo dục được đề xuất trong công trình cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên mỹ thuật tại Việt Nam.