Xây Dựng Chính Sách Lương Theo Thỏa Thuận Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Nhân Lực Khoa Học

Luận văn thạc sĩ ussh phân tích xây dựng chính sách lương theo thỏa thuận, nâng cao hiệu quả quản lý nhân lực trong điều kiện tự chủ.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2013

93
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH LƯƠNG THEO THỎA THUẬN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÂN LỰC KHOA HỌC TRONG CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM

1.1. Các khái niệm cơ bản

1.2. Chính sách

1.3. Chính sách lương

1.4. Nhân lực khoa học và công nghệ

1.5. Tự chủ tự chịu trách nhiệm

1.6. Cơ sở lý luận của việc xây dựng chính sách lương theo thỏa thuận

1.7. Lý luận về chính sách

1.8. Lý luận về chính sách lương theo thỏa thuận

1.9. Lý luận về công tác quản lý và trả lương nhân lực khoa học trong các tổ chức R&D của Việt Nam

1.10. Công tác quản lý và trả lương nhân lực khoa học trong các tổ chức R&D của một số nước tiên tiến trong khu vực

1.11. Kết luận chương 1

2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ TRẢ LƯƠNG NHÂN LỰC KHOA HỌC THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM QUY ĐỊNH TẠI NGHỊ ĐỊNH 115, NGHỊ ĐỊNH 43

2.1. Khái quát về tự chủ, tự chịu trách nhiệm

2.2. Mục tiêu và nguyên tắc của Nghị định

2.3. Về tài chính và tài sản

2.4. Về tổ chức và biên chế

2.5. Thực trạng công tác quản lý và trả lương nhân lực tại Sở Công thương Hà Nội

2.6. Cơ cấu tổ chức và nhân lực tại Sở Công thương Hà Nội

2.7. Thực trạng công tác quản lý và trả lương nhân lực khoa học tại Trung tâm Tiết kiệm năng lượng Hà Nội

2.8. Thực trạng công tác quản lý và trả lương nhân lực khoa học tại Trung tâm Xúc tiến thương mại Hà Nội

2.9. Những thuận lợi và khó khăn trong quản lý và trả lương nhân lực khoa học theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

2.9.1. Những thuận lợi

2.9.2. Những khó khăn

2.10. Kết luận chương 2

3. CHÍNH SÁCH LƯƠNG THEO HÌNH THỨC THOẢ THUẬN CHO NHÂN LỰC KHOA HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM

3.1. Vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP

3.2. Nhân lực khoa học và công nghệ hiện nay

3.3. Đề xuất chính sách lương theo hình thức thỏa thuận cho nhân lực khoa học trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm

3.4. Thực trạng tiền lương nhân lực khoa học

3.5. Chính sách lương theo hình thức thỏa thuận

3.6. Chính sách xây dựng quỹ lương

3.7. Điều kiện đảm bảo cho thực hiện chính sách lương theo thỏa thuận

3.8. Kết luận chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chính Sách Lương Theo Thỏa Thuận

Chính sách lương theo thỏa thuận là một trong những yếu tố quan trọng trong việc quản lý nhân lực khoa học. Chính sách này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo động lực cho nhân viên. Trong bối cảnh tự chủ, tự chịu trách nhiệm, việc xây dựng chính sách lương phù hợp là cần thiết để khuyến khích nhân lực khoa học phát triển. Nghiên cứu này sẽ phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến chính sách lương và vai trò của nó trong quản lý nhân lực.

1.1. Khái Niệm Chính Sách Lương

Chính sách lương được hiểu là tập hợp các biện pháp về lương, thưởng và giá cả sức lao động. Nó có vai trò quan trọng trong việc định hướng hoạt động của nhân lực khoa học, từ đó nâng cao hiệu quả công việc.

1.2. Vai Trò Của Chính Sách Lương Trong Quản Lý Nhân Lực

Chính sách lương không chỉ là công cụ để thu hút và giữ chân nhân tài mà còn là yếu tố quyết định đến sự hài lòng và động lực làm việc của nhân viên. Việc xây dựng chính sách lương hợp lý sẽ giúp tổ chức phát triển bền vững.

II. Thách Thức Trong Quản Lý Nhân Lực Khoa Học

Quản lý nhân lực khoa học trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm gặp nhiều thách thức. Các tổ chức cần phải đối mặt với vấn đề như thiếu nguồn lực tài chính, sự cạnh tranh trong việc thu hút nhân tài và sự không đồng nhất trong chính sách lương. Những thách thức này cần được nhận diện và giải quyết để nâng cao hiệu quả quản lý.

2.1. Thiếu Tài Chính Trong Quản Lý Nhân Lực

Nhiều tổ chức khoa học gặp khó khăn trong việc đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động nghiên cứu và phát triển. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chi trả lương cho nhân viên, dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám.

2.2. Cạnh Tranh Trong Việc Thu Hút Nhân Tài

Sự cạnh tranh giữa các tổ chức khoa học và doanh nghiệp trong việc thu hút nhân tài ngày càng gia tăng. Chính sách lương không hợp lý có thể khiến nhân viên rời bỏ tổ chức để tìm kiếm cơ hội tốt hơn.

III. Phương Pháp Xây Dựng Chính Sách Lương Hiệu Quả

Để xây dựng chính sách lương theo thỏa thuận hiệu quả, các tổ chức cần áp dụng một số phương pháp nhất định. Việc đánh giá nhân sự, phân tích thị trường lao động và tham khảo ý kiến của nhân viên là những bước quan trọng trong quá trình này.

3.1. Đánh Giá Nhân Sự Để Xác Định Mức Lương

Đánh giá nhân sự giúp xác định năng lực và đóng góp của từng cá nhân. Từ đó, tổ chức có thể đưa ra mức lương phù hợp, tạo động lực cho nhân viên.

3.2. Phân Tích Thị Trường Lao Động

Phân tích thị trường lao động giúp tổ chức hiểu rõ hơn về mức lương trung bình trong ngành. Điều này giúp xây dựng chính sách lương cạnh tranh và thu hút nhân tài.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Chính Sách Lương Theo Thỏa Thuận

Việc áp dụng chính sách lương theo thỏa thuận trong các tổ chức khoa học đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nghiên cứu cho thấy, các tổ chức áp dụng chính sách này có sự gia tăng đáng kể về hiệu quả công việc và sự hài lòng của nhân viên.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Từ Các Tổ Chức Khoa Học

Nghiên cứu cho thấy, các tổ chức áp dụng chính sách lương theo thỏa thuận đã cải thiện đáng kể hiệu quả công việc. Nhân viên cảm thấy được công nhận và có động lực làm việc hơn.

4.2. Những Bài Học Kinh Nghiệm Từ Thực Tiễn

Các tổ chức cần học hỏi từ những kinh nghiệm thành công trong việc áp dụng chính sách lương theo thỏa thuận. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo ra môi trường làm việc tích cực.

V. Kết Luận Về Chính Sách Lương Trong Quản Lý Nhân Lực Khoa Học

Chính sách lương theo thỏa thuận là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhân lực khoa học. Việc xây dựng và áp dụng chính sách này cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả để đáp ứng nhu cầu của nhân viên và tổ chức.

5.1. Tương Lai Của Chính Sách Lương

Trong tương lai, chính sách lương sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý nhân lực khoa học. Các tổ chức cần thường xuyên cập nhật và điều chỉnh chính sách để phù hợp với sự thay đổi của thị trường.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Lương Mới

Đề xuất các chính sách lương mới cần dựa trên nhu cầu thực tế của nhân viên và tình hình thị trường. Điều này sẽ giúp tổ chức duy trì được nguồn nhân lực chất lượng cao.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh xây dựng chính sách lương theo thỏa thuận nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhân lực khoa học trong điều kiện tự chủ tự chịu trách nhiệm

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, phần nội dung và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng chính có kết cấu nhƣ sau: CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH LƢƠNG THEO THOẢ THUẬN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÂN LỰC KHOA HỌC TRONG CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆN. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ TRẢ LƢƠNG NHÂN LỰC KHOA HỌC THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM QUY ĐỊNH TẠI NGHỊ ĐỊNH 115, NGHỊ ĐỊNH 43. CHÍNH SÁCH LƢƠNG THEO HÌNH THỨC THOẢ THUẬN CHO NHÂN LỰC KHOA HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM.

9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH LƢƠNG THEO THOẢ THUẬN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÂN LỰC KHOA HỌC TRONG CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM. Các khái niệm cơ bản 1. Chính sách Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” đƣợc hiểu là “sách lƣợc và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đƣờng lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách. Theo James Anderson thì “Chính sách” là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”.

Các chính sách có thể đƣợc đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau nhƣ: Chính sách của Liên hợp quốc, chính sách của một đảng, chính sách của một Chính phủ, chính sách của chính quyền địa phƣơng, chính sách của một bộ, chính sách của một tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, chính sách của một doanh nghiệp. Các tổ chức, các doanh nghiệp, các hiệp hội, đoàn thể. có thể đề ra những chính sách riêng biệt để áp dụng trong phạm vi một tổ chức, doanh nghiêp, hiệp hội hay đoàn thể đó. Các chính sách này nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức, chúng có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó, vì vậy, chúng mang tính chất riêng biệt và đƣợc coi là những “chính sách tƣ”, tuy trên thực tế khái niệm “chính sách tƣ” hầu nhƣ không đƣợc sử dụng.

Chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nƣớc ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng đƣợc gọi là chính sách công. Khoa học chính sách nghiên cứu các chính sách nói chung nhƣng tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu các chính sách công nhằm mục tiêu nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nƣớc. Vậy khi nói về chính sách là nói về một tập hợp biện pháp đƣợc thể chế hoá dƣới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dƣới luật nhƣ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghị định, thông tƣ, chỉ thị của Chính phủ; hoặc của các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (viện, trung tâm nghiên cứu, trƣờng đại học. Nói cách khác, vật mang chính sách chính là văn bản quy phạm pháp luật.

Chính vì vậy, so với khái niệm pháp lụât, chính sách đƣợc hiểu rộng hơn nhiều. Nếu xét nội hàm của khái niệm này trong mối quan hệ với chính trị và pháp quyền thì khái niệm chính sách cần đƣợc tìm hiểu ở một số khía cạnh sau: - Chính sách là sự thể hiện cụ thể của đƣờng lối chính trị chung. Dựa vào đƣờng lối chính trị chung, cƣơng lĩnh chính trị của Đảng cầm quyền mà ngƣời ta định ra chính sách. - Chính sách là cơ sở nền tảng để chế định nên pháp luật.

Hay nói cách khác, pháp luật là kết quả của sự thể chế hóa chính sách. Có thể có chính sách chƣa đƣợc pháp luật hoá (thể chế hoá), hoặc cũng có thể không bao giờ đƣợc luật pháp hoá vì nó không đƣợc lựa chọn để pháp luật hoá khi không còn phù hợp với tƣ tƣởng mới hay sự thay đổi của thực tiễn. Nhƣng sẽ không có pháp luật phi chính sách hay pháp luật ngoài chính sách. Theo nghĩa đó, chính sách chính là linh hồn, là nội dung của pháp luật, còn pháp luật là hình thức, là phƣơng tiện thể hiện của chính sách khi nó đƣợc thừa nhận.

Tóm lại: Chính sách là một tập hợp biện pháp đƣợc thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đƣa ra, trong đó tạo sự ƣu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hƣớng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ƣu tiên nào đó trong chiến lƣợc phát tiển của một hệ thống xã hội. Chính sách lương Lƣơng bổng là một trong những động lực kích thích con ngƣời làm việc hăng hái, nhƣng đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân gây trì trệ, bất mãn hoặc từ bỏ công ty mà ra đi. Tất cả đều tùy thuộc vào trình độ và năng lực của các cấp quản trị. Và luôn luôn là vấn đề "nhức nhối" của hầu hết các công ty ở Việt Nam.

Đây là một đề tài gây tranh luận sôi nổi trên diễn đàn 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quốc hội Việt Nam trong nhiều năm qua và hiện nay nó vẫn còn là đề tài nóng bỏng đối với Việt Nam. Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển nhƣ ở Việt Nam thì nhu cầu của con ngƣời mới chỉ đảm bảo ở mức độ thấp, tối thiểu về ăn, mặc, ở, đi lại, nghỉ ngơi, bảo vệ sức khỏe và học tập. Trong nền kinh tế thị trƣờng, nhu cầu đƣợc thể hiện tập trung ở lợi ích kinh tế - động lực trực tiếp thúc đẩy ngƣời lao động làm việc và làm việc có năng suất, chất lƣợng, hiệu quả. Lợi ích kinh tế theo C.Mác, là một phạm trù kinh tế, biểu hiện của quan hệ sản xuất, đƣợc phản ánh trong ý thức, thành động cơ hoạt động nhằm thoả mãn một cách tốt nhất nhu cầu vật chất của các chủ thể tham gia lao động.

Bất cứ một cá nhân hay tập thể lao động trƣớc và trong khi làm việc cũng đều suy nghĩ: mình đƣợc gì và có quyền lợi nhƣ thế nào khi tham gia lao động. Vấn đề đặt ra là: mỗi nhà quản lý cần phải biết điều tiết hài hoà các lợi ích không để lợi ích này xâm phạm hoặc làm tổn hại đến đến lợi ích kia, mọi biểu hiện coi thƣờng lợi ích hoặc chỉ động viên chung chung nhƣ thời bao cấp trƣớc đây đều không có tác dụng động viên kích thích ngƣời lao động làm việc. Đại hội VII Đảng cộng sản Việt Nam, sau khi đánh giá lại những thiếu sót, sai lầm của mình trong công tác quản lý, đã khẳng định phải kết hợp hài hoà các lợi ích theo nguyên tắc, lấy lợi ích của ngƣời lao động làm cơ sở, và mỗi chủ trƣơng, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nƣớc trong đó có chính sách tiền lƣơng phải xuất phát từ lợi ích, nhu cầu và khả năng ngƣời lao động. Để phù hợp với khái niệm mới về bản chất tiền lƣơng trong nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam, có một yêu cầu mới là phải làm cho tiền lƣơng thực hiện đầy đủ các chức năng của nó: chức năng thƣớc đo giá trị là cơ sở để điều chỉnh giá cả cho phù hợp mỗi khi giá cả (bao gồm giá cả sức lao động) biến động.

Chức năng tái sản xuất sức lao động nhƣng duy trì năng lực làm việc lâu dài, có hiệu quả trên cơ sở tiền lƣơng bảo đảm bù đắp đƣợc sức lao động đã hao phí cho ngƣời lao động. Chức năng kích thích bảo đảm năng suất lao động cho ngƣời lao động, duy trì cuộc sống hàng ngày và dự phòng cho cuộc sống lâu dài của họ. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣ vậy, Chính sách lƣơng là tập hợp các biện pháp về lƣơng, thƣởng, giá cả sức lao động đƣợc thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra, trong đó tạo sự ƣu đãi một hoặc một nhóm ngƣời trong xã hội, kính thích vào hoạt động của con ngƣời, định hƣớng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ƣu tiên nào đó trong chiến lƣợc phát triển của một hệ thống xã hội. Nhân lực khoa học và công nghê ̣ Theo UNESCO, nhân lực KH&CN (S & T personnel) là “những ngƣời trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và đƣợc trả lƣơng hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sƣ, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ.

Hoạt động KH&CN, theo UNESCO, là những hoạt động có tính chất hệ thống và liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra phát triển, phổ biến, áp dụng kiến thức KH&CN trong mọi lĩnh vực KH&CN. Hoạt động KH&CN bao gồm hoạt động nghiên cứu triển khai, giáo dục và đào tạo KH&CN và các dịch vụ KH&CN. Dịch vụ KH&CN bao gồm các hoạt động KH&CN của thƣ viện và bảo tàng, dịch vụ và hiệu đính tài liệu KH&CN; Điều tra, thăm dò, thu thập số liệu về các hiện tƣợng kinh tế xã hội; tiêu chuẩn, chất lƣợng, dịch vụ tƣ vấn và lấy ý kiến khách hàng, các hoạt động patent và bản quyền của các cơ quan công cộng. Khái niệm về nhân lực KH&CN của UNESCO không bao hàm đội ngũ KH&CN dạng tiềm năng.

Vì vậy, ngoài nhân lực KH&CN theo định nghĩa trên, UNESCO còn thu thập hai nhóm số liệu khác, đó là “các kỹ sƣ và nhà khoa học tiềm năng” và “các kỹ thuật viên tiềm năng” là những ngƣời nằm trong tổng vốn nhân lực hay những ngƣời thuộc lực lƣợng hoạt động kinh tế có bằng cấp của nhà khoa học/kỹ sƣ/kỹ thuật viên. UNESCO định nghĩa nhân lực KH&CN không theo bằng cấp mà theo công việc hiện đang đảm nhận. Theo OECD (Organization for Economic Co-operation and Development) đƣa ra định nghĩa về nhân lực dựa trên trình độ và công việc 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhƣ: Nhân lực KH&CN bao gồm những ngƣời đáp ứng đƣợc một trong các điều kiện sau: - Đã tốt nghiệp trƣờng đào tạo trình độ nhất định về một chuyên môn KH&CN (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên hay còn đƣợc gọi là trình độ 3 – giáo dục phổ thông bậc cao, trong hệ giáo dục đào tạo). - Không đƣợc đào tạo chính thức nhƣ đã nói ở trên nhƣng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên.

Kỹ năng tay nghề ở đây đƣợc đào tạo tại nơi làm việc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ