phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì khóa luận gồm 3 chương: Chương |: Cơ sở lý luận và thực tiên về xây dựng các bài tập thực tiên đề rên luyện năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học của học sinh trong môn Khoa học 4 Chương 2: Xây dựng các bài tập thực tiễn dé rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học của học sinh trong môn Khoa học 4 Chương 3: Thứ nghiệm các bài tập thực tiền dé rèn luyện năng lực vận dụng kiên thức, kĩ năng đã học của học sinh trong môn Khoa học 4 Trang Š CHUONG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE XÂY DỰNG CÁC BÀI TAP THỰC TIEN DE REN LUYEN NANG LỰC VẬN DUNG KIÊN THUC, KĨ NANG ĐÃ HỌC CUA HỌC SINH TRONG MÔN KHOA HỌC 4 1. Bài tập trong dạy học Khoa học - Bài tập Về khái niệm, theo từ điển Tiếng Việt, “bai tap” được định nghĩa là “bai ra cho HS đề vận dụng những điều đã hoc”. Theo thuyết hoạt động, năng lực chỉ có thê được hình thành thông qua hoạt động.
Vì thế, đối với HS, giải quyết bải tập được xem như là một nhiệm vụ cần phải thực hiện của một tiết học. Còn đối với GV, việc giao bải tập cho HS là một trong những cách thức điều khiển quá trình giáo dục, hỗ trợ GV nhận biết được HS của mình đang nắm kiến thức ở mức độ nào dé có giải pháp giúp đỡ, giảng giải kịp thời. Về vai trò, trong day hoc, bài tập đóng vai trò rat quan trong trong việc hỗ trợ HS ghi nhớ, khắc sâu và vận dung, phát triển hệ thống kiến thức lý thuyết đã được học, rèn luyện những kỹ năng cơ bản cần thiết cho quá trình phát triển của các em. HS có nhiệm vụ nhớ lại những gì đã học, suy luận dé đưa ra những phán đoán thích hợp dé giải quyết thành công yêu câu của bai tập.
Về yêu cau, các bài tập giao cho HS can được trình bày một cách rõ rang, từ ngữ tường minh, khoa học: các bài tập đều phải có ít nhất 1 lời giải: độ khó của bài tập cần đảm bảo tính vừa sức, tính phù hợp với trình độ của từng HS trong lớp,. - Bài tập trong dạy học Khoa học Trong quá trình đạy học môn Khoa học, GV có thê xây dựng bài tập với đa dạng thê loại nhằm phát triển tôi đa các năng lực đặc thù của môn học. Nội dung các bài tập chủ yếu liên quan đến các kiến thức khoa học, sự vật hoặc hiện tượng khoa học tương ứng với từng chủ đè. nội dung bài học.
Bài tập thực tiễn sử dung trong day học Khoa học - Khái niệm Bài tập thực tiễn là một đạng của bài tập định hướng năng lực, các bài tập này thường chú trọng sự vận dụng những hiểu biết riêng lẻ thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau dé giải quyết một van dé mới trong học tập, mà van dé đó phải gan Với cuộc sống thường ngày. Trong dạy học Khoa học, bài tập thực tiễn được hiệu là các bài tập có nội dung khoa học liên quan đến cuộc sông thường ngày như cách bảo vệ và tiết kiệm nguồn nước sạch. bảo vệ bau không khí trong lành hoặc vận dụng những kiến thức khoa học dé giải thích một số hiện tượng tự nhiên trong đời sông và trong thé giới sinh vật, v., Dang bài tập nay yêu cầu HS phải tái hiện và vận dụng những kiến thức, kỹ năng khoa học, kết hợp thêm với những kiến thức, kỹ năng của những môn học khác cùng với kinh nghiệm, von sóng cá nhân dé phân tích, giải quyết những van đề được đặt ra từ tình huống nay sinh từ đời sống thường ngày. - Phan loại Có rất nhiều cách dé phân loại BTTT.
Dựa vào lý luận day học, có thé chia BTTT thanh: e Bai tập hoc: Là những bài tap được dùng trong học tập dé lĩnh hội tri thức mới. Với dạng bài tập này, HS sẽ thực hiện nhiệm vụ giải quyết bải tập đề rút ra kiến thức khoa học mới hoặc dé củng có, ôn tập lại những kiến thức khoa học đã học và vận dụng những kiến thức ấy vào cuộc sông. e Bài tập đánh giá: Là loại bài tập dùng dé kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của HS trong các kì thi, kiểm tra của trường. Trên thực tế, theo cách học cũ, GV thường ít quan tâm đến bài tập học mà thường chú trọng bài tập đánh giá, mà chính ban chất của bài tập học mới có thê giúp đỡ, hỗ trợ HS nhiều hơn trong quá trình khám phá, chiếm lĩnh tri thức mới, bước đầu dé HS làm quen với việc tự tìm tòi và tự học dé rút ra kiến thức, phù hợp với định hướng dạy học phát trién năng lực người học.
Trang 7 Dựa vào tính chất đóng. mở của bài tập, BTTT cũng có thé được chia thành 2 dạng: + Bài tập đóng: Là loại bài tập mà HS có thê lựa chọn câu trả lời từ những phương án cho trước mà không cần trực tiếp trình bày câu trả lời. Đối với dạng bai tập nay, chỉ có duy nhất | kết qua đúng, HS phải tái hiện kiến thức và lựa chọn phương án đúng nhất trong nhiều phương án GV đã đưa ra. + Bài tập mở: Là loại bài tập không có lời giải, đáp án có định mà câu trả lời sẽ phụ thuộc vào sự hiểu biết và suy luận của HS.
Khi GV đưa ra câu hỏi, HS sẽ có thời gian dé suy nghĩ hoặc thảo luận với bạn bẻ va được trình bày ý kiến cá nhân. Dạng bài tập này đề cao tính sáng tạo cá nhân và góp phần phát triển, kích thích kha năng tư duy cũng như kỹ năng trình bày, diễn giải ý kiến theo cách nhìn của bản thân về một van dé khoa hoc. Dựa vào hình thức của bài tap, BTTT có thê được xây dựng dưới dạng câu hỏi thực hành, câu hỏi định tinh, câu hỏi kiểm tra, hoặc là bai tập miệng, bài tập viết hay thậm chí là bài tập trắc nghiệm, bài tập tự luận. - Đặc điểm của bài tập thực tiễn Hệ thống BTTT sử dụng trong dạy học Khoa học 4 cần được nhân mạnh về ban chất của các sự vật, hiện tượng quen thuộc tồn tại xung quanh con người và đề cập những kiến thức khoa học có gắn kết với thực tiễn đời sống, qua 6 chủ đề được quy định tại Chương trình Khoa học 2018 (Chất; Năng lượng; Thực vật và động vật; Nam, vi khuẩn; Con người và sức khoẻ; Sinh vật và môi trường).
BTTT có thê phù hợp trong tất cả các hoạt động dạy học của một tiết học, bao gồm các hoạt động gợi mở, khám phá hình thành kiến thức, kỹ năng mới; hoạt động vận dụng liên hệ thực tế; hoạt động luyện tập cùng cô kiến thức, ky năng đã học. Ngoài ra, BTTT còn có tác dụng giáo dục tu tưởng, đạo đức va thế giới quan khoa học cho HS ở từng nội dung bài học hay từng chủ đề cụ thê. Trang 8 BTTT sẽ phát huy tối đa hiệu quả nếu được sử dụng phối hợp với những phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực thích hợp. Vì thế, dé xây dựng hệ thống BTTT, GV phải xác định tính ứng dụng của khoa học trong từng bài, nội dung bai tập can đa dang, hap dan HS, phù hợp với hoàn cảnh thực tế, phải đảm bao tính logic, chính xác, khoa học và phù hợp với trình độ của các HS trong lớp học.
Đặc biệt, BTTT cũng cần mang tính phô biến và thời sự nhằm cung cấp thông tin cho các em một cách nhanh chóng và kip thời, thu hút chú ý của HS. việc lựa chọn phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp đê ứng dụng BTTT sé đóng góp một phần không nhỏ trong quá trình hình thành và phát trién năng lực VDKTKN đã học của các em HS, hướng đến mục tiêu day học phát triển năng lực và thúc day các em thé hiện ban thân một cách tối đa. Cấu trúc của mỗi BTTT bao gồm 2 phân: ¢ Phan da cho: Đây là những thông tin được lay từ thực tiễn cuộc sông hằng ngày có liên quan đến những kiến thức khoa học trong các bài học/ chủ dé khoa học tương ứng. © Phan yêu cầu: Là van dé HS cần giải quyết.
Phan nay đòi hỏi HS phải xác định van dé cần giải quyết từ phan đã cho, lựa chọn những kiến thức, kĩ năng khoa học tương ứng đã được học trước đó đề đưa ra những câu trả lời, giải thích phù hợp. * Vai trò của bài tập thực tiễn trong việc rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học trong môn Khoa học 4. Sử dụng bài tập thực tiễn trong dạy học Khoa học giúp gắn kết kiến thức môn học với các hiện tượng trong đời sống, là cầu nối giữa lý thuyết và thực hành. Dé giải quyết được những bai tập này, HS phải vận dụng các kiến thức đã học một cách tông hợp, năm những kiến thức khoa học thật vững chắc và phối hợp nhiều kỹ năng khác nhau dé so sánh, phân tích và đưa ra câu trả lời.
Từ đó, kiến thức môn học được củng cô và được ghi nhớ khắc sâu hơn, các em sẽ hiểu rõ và nắm bắt chính xác và có hệ thống những kiến thức lý thuyết đã Trang 9 học. Bên cạnh đó, giải quyết BTTT còn giúp HS rèn luyện kĩ năng giải bài tập cơ bản, từng bước tao cho HS có trực giác nhạy bén đối với những van dé liên quan thé giới sinh vat va các sự vật, hiện tượng khoa học. Bài tập thực tiễn rèn luyện khả năng tư duy logic, khả năng phán đoán, phân tích của HS. Khi giải quyết bài tập thực tiễn, HS buộc phải suy luận, đưa ra những dự đoán cá nhân đẻ tìm ra các giải pháp phù hợp với vẫn đề.
Từ đó, kích thích trí tò mò, khơi đậy tiềm năng sáng tạo, kích thích hứng thú học tập và tạo động lực đê HS giải quyết vấn đề thành công. Sử dụng bài tập thực tiễn trong day học Khoa học còn là cơ hội đề HS mở rộng tam hiểu biết cá nhân. Trong lúc tìm ra đáp án cho bài tập, HS có thé mở rộng và nâng cao hiểu biết bản thân thông qua những kiến thức mà trong tiết học, GV chưa có thời gian đề cập. Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học trong môn Khoa học.
- Năng lực Có rất nhiều tài liệu định nghĩa từ “năng lực”.