CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG WEBSITE HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH CỦA SINH VIÊN NGÀNH ĐỊA LÍ HỌC, KHOA ĐỊA LÍ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TPHCM 1. Các khái niệm liên quan 1. Website Website hay còn được gọi là trang mạng, trang web. Website là một tập hợp bao gồm thông tin, hình ảnh, video và các tệp đa phương tiện khác.
của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sở hữu một tên miền chính (domain6) hoặc tên miền phụ (subdomain7) trên mạng lưới toàn cầu (world wide web8) và được lưu trữ trên hệ thống máy chủ (Vdosoftware, 2021). Nếu một cá nhân sở hữu một công ty kinh doanh rất nhiều những ngành nghề khác nhau và muốn sử dụng mỗi một trang web riêng cho từng ngành nghề riêng của mình thì sẽ rất tốn chi phí vì phải mua rất nhiều tên miền để sử dụng. Thay vì thế để tiết kiệm chi phí cho người dùng thì tên miền phụ ra đời sẽ giúp tiết kiệm chi phí cho các doanh nghiệp hay người làm kinh doanh nói chung để có thể mở thêm nhiều trang web với các tên miền phụ khác nhau mà không hề mất thêm khoản chi phí nào. Năng lực tiếng Anh chuyên ngành *Năng lực Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó (Từ điển tiếng Việt SOHA).
Người có năng lực tốt sẽ hoàn thành công việc đó trong thời gian nhanh chóng và đạt hiệu quả cao. Ngược lại, người có năng lực chưa tốt sẽ hoàn thành công việc lâu hơn và hiệu quả ít hơn. *Tiếng Anh chuyên ngành Từ trước tới nay đã có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về một thuật ngữ tiếng Anh là “English for specific purposes” (Tiếng Anh 6 Tên của một website nó được lập ra giúp cho người xem và công cụ tìm kiếm có thể phân biệt được 2 tên miền khác nhau là 2 website khác nhau. 7 Tên miền con của tên miền chính.
8 Một không gian thông tin toàn cầu mà mọi người có thể truy cập thông tin qua các thiết bị kết nối với mạng Internet. 8 chuyên ngành – TACN) để phân biệt với một thuật ngữ khác là “General English” (Tiếng Anh phổ thông – TAPT). TACN được thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của người học, sử dụng các phương pháp và hoạt động của CN mà nó phục vụ. TACN tập trung vào kiểu loại ngôn ngữ phù hợp với các hoạt động này về ngữ pháp, từ vựng, ngữ vực, kỹ năng học tập, diễn ngôn và phong cách.
TACN thường chỉ dành cho học viên trưởng thành ở bậc đại học, trung học chuyên nghiệp hay đã đi làm ở một cơ quan chuyên nghiệp nào đó. Những học viên này thường bắt đầu từ trình độ trung cấp (intermediate) hoặc cao cấp (advanced), nghĩa là học viên đã phải có những hiểu biết, tri thức cơ bản của tiếng Anh. Có thể thấy rằng, TACN phục vụ mục đích, nhu cầu hết sức rõ ràng, cụ thể của người học, khác với TAPT là phục vụ những yêu cầu chung, yêu cầu căn bản của bất kì người học ngoại ngữ nào. Có thể thấy sự phân biệt này qua mô hình Cây ELT (English Language Teaching – Giảng dạy Anh ngữ) mà Hutchinson và Waters (1987:17) đưa ra, một mô hình có tính đại diện cao, được chấp nhận rộng rãi hơn cả.
Sơ đồ Cây ELT cho thấy TACN bao gồm một số kiểu loại khác nhau mà trên sơ đồ mới chỉ thể hiện đại diện là 3 loại: English for Science and Technology (EST – tiếng Anh Khoa học-Công nghệ), English for Business and Economics (EBE – tiếng Anh Thương mại-Kinh tế), English for Social Sciences (ESS – tiếng Anh Khoa học Xã hội). Các kiểu loại này lại bao gồm các kiểu loại cụ thể hơn như English for Academic Purposes (EAP – tiếng Anh học thuật) và EOP (English for Occupational Purposes – tiếng Anh nghề nghiệp). Đến lượt các EAP và EOP này lại tiếp tục được chia nhỏ hơn nữa thành những tiểu loại như tiếng Anh cho Y học, tiếng Anh cho Kĩ thuật viên, tiếng Anh cho Thư kí văn phòng, tiếng Anh cho Tâm lí học… và những tiểu loại này còn có thể được chia nhỏ hơn nữa tuỳ theo mục tiêu, mục đích cụ thể của người học cũng như nội dung giảng dạy và học tập (Lâm Quang Đông, 2011). Theo tác giả Lâm Quang Đông, TACN có những đặc điểm như sau: - Đáp ứng những mục đích cụ thể của người học.
- Sử dụng các phương pháp và hoạt động của chính CN mà nó phục vụ. 9 - Tập trung vào loại ngôn ngữ phù hợp với những hoạt động đó về mặt ngữ pháp, từ vựng, ngữ vựng, kỹ năng học tập, diễn ngôn và thể loại. - Có thể liên quan tới, hoặc được thiết kế riêng cho những CN cụ thể. - Thường được thiết kế cho người lớn hoặc ở các cơ sở đào tạo bậc đại học, hoặc ở bối cảnh công tác chuyên môn nhất định.
- Thường chỉ dành cho học viên ở trình độ trung cấp hoặc cao cấp về tiếng Anh. - Hầu hết các khoá TACN đều đặt giả thiết/điều kiện rằng học viên đã có kiến thức cơ bản về các hệ thống ngôn ngữ. Như vậy, tác giả cho rằng: “Năng lực TACN chính là khả năng mà một người vận dụng tiếng Anh nhằm đáp ứng yêu cầu hoặc mục đích cụ thể của một CN nào đó”. Khả năng này vận dụng ba yếu tố là từ vựng, ngữ pháp và phát âm, thể hiện qua bốn kỹ năng nghe, nói, đọc và viết.
Tuy nhiên, để phát triển năng lực TACN thì yếu tố từ vựng CN nên được chú trọng song song với yếu tố từ vựng phổ thông. Về yếu tố ngữ pháp, người học nên chú trọng học các mẫu câu CN để sử dụng trong CN thay vì chỉ học ngữ pháp phổ thông. Từ vựng chuyên ngành Từ là chuỗi kết hợp của một hoặc một vài hình vị mang chức năng gọi tên và chức năng ngữ nghĩa (Nguyễn Thiện Giáp, 2000). Chuyên ngành là chỉ một mảng, một phần của một lĩnh vực nào đó, bao gồm các vấn đề, các sự việc, các công việc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Như vậy, tác giả cho rằng: “Từ vựng CN là chủ thể có chức năng gọi tên và chức năng ngữ nghĩa về các vấn đề, các sự việc, các công việc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong một mảng, một phần của một lĩnh vực nào đó”. Mẫu câu chuyên ngành Theo định nghĩa xuất hiện từ thế kỉ 9 trước Công Nguyên của nền văn minh Hy Lạp về ngôn ngữ học: “Ngữ pháp là tập hợp các quy tắc cấu trúc chi phối thành phần của mệnh đề, cụm từ và từ trong ngôn ngữ tự nhiên. Thuật ngữ này cũng đề cập đến việc nghiên cứu các quy tắc về âm vị học, hình thái và cú pháp, thường được bổ sung bởi ngữ âm, ngữ nghĩa và thực dụng”. Như vậy, tác giả cho rằng có thể định nghĩa mẫu câu CN 10 như sau: “Mẫu câu CN là những cấu trúc có đặc điểm của ngữ pháp phổ thông nhưng sử dụng văn phong phù hợp với ngữ cảnh thường gặp về các vấn đề, các sự việc, các công việc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong một mảng, một phần của một lĩnh vực nào đó”.
Bản tin chuyên ngành Theo Điều 3 Luật Báo chí 2016: “Bản tin là sản phẩm thông tin có tính chất báo chí xuất bản định kỳ, sử dụng thể loại tin tức để thông tin về hoạt động nội bộ, hướng dẫn nghiệp vụ, kết quả nghiên cứu, ứng dụng, kết quả các cuộc hội thảo, hội nghị của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.” Như vậy, kết hợp với định nghĩa về “CN” ở mục 1.3, tác giả cho rằng có thể định nghĩa bản tin CN như sau: “Bản tin CN là sản phẩm thông tin có tính chất báo chí xuất bản định kỳ về các vấn đề, các sự việc, các công việc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong một mảng, một phần của một lĩnh vực nào đó”. Trong đó, sử dụng thể loại tin tức để thông tin về hoạt động nội bộ, hướng dẫn nghiệp vụ, kết quả nghiên cứu, ứng dụng, kết quả các cuộc hội thảo, hội nghị của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Video chuyên ngành Về phương diện kỹ thuật, video là 1 dạng hình ảnh động tập hợp của rất nhiều ảnh tĩnh xuất hiện liên tục nối tiếp nhau. Thường thì 1 giây video có 24 hình tĩnh và từ 24 hình trở lên thì mắt người của chúng ta sẽ có cảm giác là hành động đó xảy ra rất mượt mà.
Con số 24 đã trở thành chuẩn mực và là lựa chọn hàng đầu của những người thực hiện video nói chung và video quảng cáo nói riêng. Về phương diện chức năng, video là phương tiện điện tử để ghi, sao chép, phát lại, phát sóng và hiển thị hình ảnh chuyển động được lưu trữ trong các phương tiện. Như vậy, tác giả cho rằng có thể định nghĩa video CN như sau: “Video CN là phương tiện điện tử để ghi, sao chép, phát lại, phát sóng và hiển thị hình ảnh chuyển động có nội dung về các vấn đề, các sự việc, các công việc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong một mảng, một phần của một lĩnh vực nào đó và được lưu trữ trong các phương tiện”. Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy và học tiếng Anh 11 Trong bối cảnh hội nhập quốc tế như ngày nay, năng lực tiếng Anh đóng một vai trò rất quan trọng.
Trong vài thập kỉ gần đây, công nghệ thông tin được ứng dụng trong dạy và học tiếng Anh bởi những lợi ích rõ ràng mà nó đem lại, theo tác giả, có thể kể đến như: - Cung cấp nguồn học liệu rộng lớn về từ vựng, ngữ pháp, phát âm. Giáo viên thông qua nguồn học liệu phong phú đó có thể phát triển năng lực tiếng Anh của chính mình và của học viên. Bên cạnh đó, nguồn học liệu còn có các BTRL kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Anh đa dạng tạo điều kiện cho việc hình thành năng lực tiếng Anh thông qua quá trình dạy và học. - Cung cấp đa dạng các loại tài liệu như các bản tin, bài báo, phóng sự, video.
mà thông qua đó học viên cũng có thể gián tiếp học tập, phát triển các kỹ năng tiếng Anh của mình (chủ yếu là kỹ năng nghe và đọc do các dạng tài liệu trên được học viên tiếp nhận thông qua hình thức tiếp nhận thông tin một cách bị động). - Hỗ trợ hoạt động dạy và học diễn ra trực quan, sinh động hơn do công nghệ thông tin có các phần mềm thiết kế bài dạy.