Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết ảnh hưởng của vốn nhân lực đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của vốn nhân lực đến kết quả quả kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam Chương 5: Bàn luận về kết quả nghiên cứu, đề xuất khuyến nghị. 26 thức và kỹ năng (Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008; Nadir Altinok, 2007; Raymond Torres, 2003). Những người sử dụng LĐ thường thể hiện mong muốn tạo dựng vốn nhân lực thông qua việc thực hiện các khoá đào tạo do DN tài trợ. Các khoá học này có thể là đào tạo chính quy tại các trường hoặc đào tạo không chính quy trong công việc.2: Các đặc điểm của học tập chính quy và học tập không chính quy TT Học tập chính quy Học tập không chính quy 1 Liên quan đến một số người, không liên Liên quan cao đến nhu cầu cá nhân quan nhiều đến một số người khác Việc học tập có những yêu cầu giống Việc học tập rất khác nhau giữa 2 nhau giữa những người học, nghĩa là tất những người học.
Những người học cả những học viên phải học cùng nội học những nội dung khác nhau căn cứ dung như nhau vào nhu cầu của mình 3 Khoảng cách giữa kiến thức hiện tại và Khoảng cách giữa kiến thức hiện tại kiến thức mục tiêu hay thay đổi và kiến thức mục tiêu rất nhỏ Giảng viên quyết định thời điểm áp 4 dụng những nội dung học tập, có thể Người học quyết định học tập như thế học xong sử dụng được ngay, có thể tốt nào để áp dụng được ngay cho trước đây hoặc tốt cho sau này 5 Thường không diễn ra ở nơi làm việc Diễn ra tại nơi làm việc Nguồn: Thomas O.2 Tạo vốn nhân lực qua đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp Các lao động được đầu tư, đào tạo trong doanh nghiệp tốt hơn được giả định là có nhiều kiến thức hơn và các kỹ năng cao hơn. Một tài nguyên với vốn nhân lực chất lượng cao có giá trị gia tăng cao có thể cải thiện khả năng cạnh tranh và năng lực cốt lõi của doanh nghiệp và tạo ra lợi nhuận cao hơn (Stewart, 1997). Đầu tư cho giáo dục phản ảnh chi phí để có được vốn nhân lực, vốn nhân lực có đặc điểm là có nhiều giai đoạn và người chủ vốn nhân lực không thể tự quyết định được mức vốn nhân lực của mình mà do Chính phủ, xã hội,. quyết định thông qua quá trình đào tạo.
Nhiều công trình nghiên cứu chấp nhận chủ thể đầu tư cho giáo dục là Nhà nước, doanh nghiệp và cá nhân (Indu Bhushan và cộng sự, 2011; Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008). Tuy nhiên, trong giai đoạn người lao động làm việc tại các 27 doanh nghiệp thì vốn nhân lực chuyên môn được đề cao hơn. Các doanh nghiệp có vai trò lớn trong đầu tư vào vốn nhân lực của đơn vị mình (phần tài chính mà doanh nghiệp đầu tư cho công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, áp dụng khi người lao động được tuyển dụng vào làm việc tại doanh nghiệp). Việc doanh nghiệp đầu tư tài chính cho giáo dục phụ thuộc rất nhiều yếu tố song một yếu tố rất quan trọng là tính hiệu quả của việc đầu tư, hay nói một cách khác thì việc DN chi ra một đồng đầu tư đào tạo người lao động sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận cho DN sau khi lao động đó được đào tạo.3 Tạo cơ sở thuận lợi cho quá trình phát triển và tạo vốn nhân lực thông qua xác lập một thị trường kiến thức Các doanh nghiệp thường đề cập đến kiến thức như một nguồn lực cần được quản lý.
Để thực hiện chức năng trao đổi và phân phối kiến thức một cách hiệu quả, một thị trường kiến thức yêu cầu các thành phần giống như bất kỳ một thị trường hiệu quả nào khác, đó là có sản phẩm, có nhà sản xuất, có người bán hàng, người mua có nhu cầu và nhà môi giới trao đổi. Sản phẩm là kiến thức ẩn được chuyển thành dạng kiến thức hiện ở dạng một tài liệu, một đĩa CD.Nhu cầu của người mua sản phẩm phát sinh vì một số lý do (ví dụ vì khoảng cách xa), anh ta không thể tham dự vào một nhóm khác để có thể cập nhật tới cái mà thành viên khác đã biết. Điều này tạo ra một cơ hội cho nhà sản xuất-người bán đang sở hữu những kiến thức mà người khác không biết tạo ra một sản phẩm kiến thức và chuyển nó cho khách hàng để mang lại lợi ích cho cả hai phía. Một giá trị nào đó phải được chuyển từ khách hàng sang nhà cung cấp để hoàn thiện giao dịch.
Trong một doanh nghiệp có sự biến đổi kiến thức của chính nó và quan tâm đến sự lan truyền kiến thức đó. Điều này có thể bao gồm nhưng vượt quá sự quan tâm của các nhà sản xuất và người mua cá nhân. Nếu như các doanh nghiệp dịch vụ chuyên nghiệp, có văn phòng ở một nơi nhưng lại muốn chia sẻ dữ liệu họ có cho nhiều nơi khác trên thế giới cùng sử dụng thì những người ở các nơi khác nhau có thể sẽ không còn cảm thấy quá xa cách khi họ cần những ý tưởng mới hoặc một chút thông tin. Tuy nhiên, do sự phân tán nên rất khó có thể tạo dựng được các mối liên hệ với nhau.
Ngược lại, những người có công việc ổn định có thể không muốn cố tạo ra các sản phẩm kiến thức ngoài những gì họ biết mặc dù những kiến thức rất có giá trị của họ có thể có giá trị đối với những người khác trong doanh nghiệp. Việc trao đổi kiến thức có thể dễ dàng trong phạm vi các nhóm, cộng đồng và các cá nhân. Họ chia sẻ các kiến thức mà họ tạo ra một cách tự phát như là một phần 28 công việc của họ, Trong một số trường hợp, doanh nghiệp có thể nhìn thấy tiềm năng đối với việc làm hoà hợp và phát huy các kiến thức đang nằm rải rác trong doanh nghiệp. Trong khi tìm kiếm để khuyến khích sự biến đổi và phân phối nhiều kiến thức ở dạng hiện này hơn, doanh nghiệp có thể đóng một số vai trò khác nhau như : - Phát hiện ra các kiến thức đáng để biến đổi và truyền đạt cho người khác.
- Tài trợ cho quá trình biến đổi và phân phối. - Khích lệ nhà sản xuất-người bán và khách hàng, qua đó tiếp thêm năng lượng cho thị trường kiến thức. Trong bất kỳ thị trường nào, các đặc trưng của sản phẩm đóng vai trò quyết định. Đôi khi, các ý tưởng và thông tin chỉ yêu cầu những biến đổi hết sức đơn giản, mọi người có thể sẵn sàng áp dụng ngay những kinh nghiệm bán hàng thành công do những người đi đầu khởi xướng.
Tuy nhiên, việc cải tiến và nâng cấp những kiến thức nguyên bản đó đòi hỏi những nỗ lực biến đổi phức tạp hơn. Những dữ liệu ban đầu có thể rất ít có giá trị khi môi trường thay đổi, dữ liệu có thể coi là nguyên liệu thô cho quá trình biến đổi thành thông tin có ích cho doanh nghiệp thông qua việc định dạng lại các dữ liệu sao cho chúng có thể áp dụng được ngay. Tuy vậy, khi dữ liệu đã trở thành thông tin thì nhiều doanh nghiệp dừng lại ở đây, mặc dù thông tin chưa thể hiện hết các tiềm năng và các lợi ích đầy đủ của chúng, có rất nhiều giá trị tiềm ẩn trong thông tin đó vẫn chưa được khai thác hết. Bằng cách đào sâu thông tin, phân tích các mô hình và xác định nguyên nhân gốc rễ, định hướng sự tác động, một doanh nghiệp có thể chuyển thông tin thành tri thức, và bước cuối cùng trong sự biến đổi là chuyển tri thức thành vốn nhân lực (Thomas O.3 Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp 2.1 Doanh thu Doanh thu là chỉ tiêu kinh tế chính phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh thu bán hàng được hiểu là tổng giá trị thực hiện được do việc bán hàng hóa, sản phẩm, cung cấp lao vụ, dịch vụ cho khách hàng mang lại. Các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đem biếu, tặng, cho hoặc tiêu dùng ngay trong nội bộ, dùng để thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho cán bộ công nhân viên, trao đổi hàng hóa, làm phương tiện thanh toán công nợ của doanh nghiệp cũng được hạch toán để xác định DT bán hàng. Theo một nghĩa khác thì doanh thu bán hàng của một doanh nghiệp là bao gồm toàn bộ số tiền đã thu được hoặc có quyền đòi về do việc bán hàng hóa và dịch vụ trong một thời gian nhất định. 29 Thời điểm xác định doanh thu bán hàng là khi người mua đã chấp nhận thanh toán không phụ thuộc vào số tiền đã thu được hay chưa, ở đây ta cần phân biệt hai thuật ngữ: Doanh thu tổng thể và DT thuần.
+ Doanh thu tổng thể hay còn gọi là tổng doanh thu là số tiền ghi trong hóa đơn bán hàng, hợp đồng cung cấp lao vụ kể cả số DT bị chiết khấu, hàng bán bị trả lại và giảm giá hàng bán chấp thuận cho người mua nhưng chưa được ghi trên hóa đơn. + Doanh thu thuần hay còn gọi là doanh thu thực được xác định bằng công thức: Doanh thu thuần = Doanh thu tổng thể - Chiết khấu bán hàng - Hàng bán bị trả lại - giảm giá hàng bán - Thuế gián thu Chiết khấu hàng bán bao gồm: - Chiết khấu thanh toán là khoản tiền thưởng chấp thuận cho khách hàng đã thanh toán trước thời hạn cho phép. - Chiết khấu thương mại là khoản tiền giảm trừ cho khách hàng tính trên tổng số các nghiệp vụ đã thực hiện trong một thời gian nhất định, khoản giảm trừ trên giá bán thông thường vì lý do mua hàng với số lượng lớn. Các khoản chiết khấu bán hàng được coi như một khoản chi phí làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Hàng bán bị trả lại là số hàng hóa, thành phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do không phù hợp với yêu cầu của người mua, do vi phạm hợp đồng kinh tế, vi phạm cam kết, kém phẩm chất không đúng chủng loại quy cách. - Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ được chấp nhận một cách đặc biệt trên giá đã thỏa thuận vì lý do hàng kém phẩm chất hay không đúng quy cách theo hợp đồng, không đúng thời hạn ghi trong hợp đồng nhưng chưa đến mức độ bị trả lại do bên mua đồng ý chấp nhận giảm giá.