CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ODA 1. KHÁI NIỆM ODA 1. Lịch sử hình thành ODA Thế giới hiện đang tồn tại hơn 100 nước được coi là chậm và đang phát triển, dân số ở các nước này chiếm tới 80% dân số thế giới, tập trung nhiều ở Châu Á, Châu Phi. Thực trạng của các nước này là nền kinh tế kém phát triển: thu nhập bình quân theo đầu người rất thấp và trong tình trạng thiếu vốn nghiêm trọng.
Để thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, các nước này không còn con đường nào khác là phải nhanh chóng tiến hành quá trình công nghiệp hoá đất nước. Muốn vậy, mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong kế hoạch phát triển kinh tế của mỗi nước là phải tạo mức tăng trưởng kinh tế cao. Các nguồn vốn cần có cho việc đầu tư và phát triển được huy động trước hết từ các khoản tiền tiết kiệm trong nước. Ngoài ra còn phải nhờ đến các nguồn tài trợ từ bên ngoài (thu hút vốn đầu tư và vay vốn nước ngoài).
Thực tế cho thấy hầu hết các nước trong thời kỳ tăng trưởng và phát triển kinh tế đều ở trong tình trạng khoản tiền cần thiết cho việc đầu tư kinh tế vượt xa mức tiết kiệm do khả năng tích luỹ vốn trong nước bị hạn chế trong thời kỳ đầu phát triển. Vì vậy, muốn đạt được những chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế, các nước luôn phải dựa vào nguồn vốn từ nước ngoài. Viện trợ phát triển chính thức (ODA) là một trong những kênh vốn lớn đối với các quốc gia đang phát triển. Viện trợ phát triển chính thức thực ra đã có từ rất lâu nhưng vào thời xa xưa, người ta chưa gọi nó bằng cái tên Hỗ trợ phát triển chính thức như ngày nay.
Ngay từ thời xã hội con người chưa hình thành nên Nhà nước, các bộ lạc đã có sợi dây liên hệ giúp đỡ nhau về mặt kinh tế chủ yếu thông qua hình thức sơ khai (tiền thân của ODA ngày nay) là sự giúp đỡ qua lại giữa các bộ lạc 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với nhau: một bộ lạc thiếu thốn về mặt nào đó sẽ được bộ lạc khác dư dả hơn giúp đỡ. Đầu tiên sự giúp đỡ này còn vô tư, về sau, biến tướng đi, nó kèm theo những điều kiện do bên cho mượn đặt ra buộc bên kia phải chấp nhận (những điều kiện này thường có lợi cho phía nhà cung cấp). Trong thời kỳ đầu, việc vay mượn rất đơn giản, chỉ đơn thuần là hàng hoá, nhu yếu phẩm và có sự đồng ý giữa hai bên là được. Bên nhận sẽ trực tiếp mang về luôn những thứ mình cần.
Xã hội ngày càng phát triển và theo cùng với nó, khoảng cách giữa nước giàu và nước nghèo ngày càng trở nên cách biệt. Các nước nghèo không thể tự mình phát triển được nền kinh tế yếu kém nếu không có sự giúp đỡ từ bên ngoài. Do đó, nhu cầu vay mượn giữa các nước với nhau tăng dần theo sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Từ khi xuất hiện hệ thống tiền tệ thế giới, việc vay mượn giữa nước này với nước kia chủ yếu được thực hiện bằng tiền.
Hàng hoá, lương thực, thực phẩm được dùng để viện trợ khẩn cấp. Việc vay mượn không còn đơn giản chỉ là sự đồng ý giữa hai bên và số tiền từ bên cho vay sẽ chuyển thẳng sang bên nhận mà bây giờ phải trải qua hàng loạt các công đoạn. Các công đoạn này cần nhiều thời gian và điều kiện làm hạn chế số lượng tiền mà các nước nghèo nhận được. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước bị tàn phá nặng nề, nhất là về kinh tế, đặc biệt là các nước Châu Âu.
Trong khi đó, Mỹ, nước cũng tham gia vào thế chiến II lại không bị tổn thất nặng nề do chiến tranh không tới được nước Mỹ, đã nhanh chóng giàu lên và chiếm vị trí mạnh nhất thế giới. Với sức mạnh mọi mặt, nổi bật nhất là về kinh tế, Mỹ đã đưa ra kế hoạch Marshall vào năm 1947 nhằm vừa trợ giúp các nước Châu Âu nhưng cũng vừa chi phối, kiểm soát các nước này. Để được tiếp nhận nguồn viện trợ từ kế hoạch Marshall, các nước Châu Âu đã đưa ra chương trình phục hồi kinh tế và thành lập Tổ chức hợp tác kinh 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tế Châu Âu, sau trở thành Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development – OECD) vào ngày 14/12/1960. Tổ chức này có những đóng góp quan trọng trong việc cung cấp ODA song phương và đa phương.
Trong khuôn khổ hợp tác và phát triển, các nước OECD đã lập ra các Uỷ ban chuyên môn, trong đó có Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (Development Asistance Committee – DAC) nhằm mục đích giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư. Thành viên ban đầu của DAC gồm 18 nước: Australia, Áo, Ai xơ len, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Tây Đức, Italia, Nhật Bản, Hà Lan, Niu Di lân, Na Uy, Thuỵ Điển, Thuỵ Sỹ, Anh và Mỹ. Ngoài ra, OECD còn có thêm Uỷ ban Cộng đồng Châu Âu. Hiện nay, DAC có thêm Bồ Đào Nha, Luc xem bua và Tây Ban Nha.
Các nước thành viên DAC có nhiệm vụ thường xuyên thông báo cho Uỷ ban các khoản đóng góp của họ cho các chương trình viện trợ và phát triển. Đồng thời trao đổi với nhau các vấn đề liên quan đến chính sách viện trợ và phát triển. Như vậy, lúc đầu ODA là sự trợ giúp dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với các điều kiện ưu đãi của các nước phát triển dành cho các nước đang phát triển. Nhưng gần đây, DAC đã đề cập tới vai trò khác của viện trợ, ngoài việc cung cấp vốn.
Đó là viện trợ phải chú trọng tới việc hỗ trợ các nước nhận vốn về mặt thể chế và giúp các nước nhận viện trợ có những chính sách phù hợp chứ không chỉ đơn thuần là việc cấp vốn cho họ. Có như vậy, hiệu quả sử dụng vốn cũng như tác dụng của ODA mới được mở rộng và có tính lâu dài. Khái niệm ODA 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Offical Development Assistance (ODA) – Viện trợ phát triển chính thức là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau tuỳ theo từng khía cạnh tiếp cận. Ngân hàng Thế giới (WB) định nghĩa viện trợ phát triển chính thức (ODA) là một bộ phận của Tài chính phát triển chính thức (ODF).
ODF là nguồn tài trợ chính thức của chính phủ cho mục tiêu phát triển. ODF gồm có ODA và các hình thức ODF khác, trong đó, ODA chiếm tỷ trọng lớn trong ODF nhưng phần nguồn vốn hỗ trợ cho không chỉ chiếm khoảng 25% số vốn được cung cấp [37, 110]. Theo các nước OECD, ODA là “những nguồn tài chính do các chính phủ hoặc các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia viện trợ cho một quốc gia nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi của quốc gia đó”. Theo Uỷ ban viện trợ phát triển (DAC), viện trợ phát triển chính thức là nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với các điều kiện ưu đãi; ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát triển (và các tổ chức nhiều bên), được các cơ quan chính thức của các chính phủ trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ tài trợ.
Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, một địa phương, một ngành được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tài trợ, thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết. Hiệp định quốc tế hỗ trợ này chỉ được chi phối bởi công pháp quốc tế. Theo định nghĩa của Nhật Bản, một loại viện trợ muốn là ODA phải có đủ 3 yếu tố: - Do Chính phủ hoặc cơ quan thực hiện của Chính phủ cấp. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Có mục đích góp phần phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi cho nước nhận viện trợ.
- Tính ưu đãi (grant element) phải trên 25%. Trong đó, tính ưu đãi là một chỉ số tổng hợp từ 3 yếu tố: lãi suất, thời hạn trả nợ và thời gian hoãn trả nợ (thời gian ân hạn trong tương quan so sánh với các yếu tố tương tự của ngân hàng thương mại. Ví dụ, viện trợ không hoàn lại trong ODA có tính ưu đãi là 100%, còn tính ưu đãi chung cho ODA của Nhật năm 1994 là 76,6% [23, 11]). TS Nguyễn Quang Thái (Viện chiến lược phát triển), hỗ trợ phát triển chính thức ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi (về lãi suất, thời gian ân hạn và trả nợ) của các cơ quan chính phủ thuộc các nước và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (NGO).
Theo PGS Đỗ Ngọc Tước, Trưởng ban quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế, hỗ trợ phát triển chính thức là sự trợ giúp bằng tiền, hàng hoá, chuyển giao công nghệ và chuyển giao tri thức cho phía Việt Nam của các Chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức Liên Hợp Quốc và các tổ chức phi chính phủ trên thế giới dưới các hình thức viện trợ không hoàn lại, viện trợ hoàn lại (cho vay ưu đãi), v.v… được thực hiện theo những thoả thuận bằng văn bản ký kết với Chính phủ Việt Nam hoặc với các cơ quan được Chính phủ Việt Nam uỷ quyền và được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Khái niệm ODA của Việt Nam được nêu ra tại Điều 1 của Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức được ban hành kèm theo Nghị định 17/2001/NĐ - CP ngày 4/5/2001 của Chính phủ. Theo đó, ODA được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ của một quốc gia với nhà tài trợ, bao gồm Chính phủ nước ngoài và các tổ chức liên Chính phủ hoặc liên quốc gia dưới hình thức viện trợ không hoàn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lại hoặc phần vốn vay ưu đãi cho không chiếm ít nhất là 25%. Phụ lục 1 của Thông tư 06/2001/TT – BKH ban hành kèm theo Nghị định trên đã sử dụng công thức tính phần cho không của OECD dựa trên tổ hợp các yếu tố đầu vào như lãi suất, thời hạn cho vay, thời gian ân hạn, số lần trả nợ trong năm và tỷ lệ chiết khấu.