phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng: Chƣơng 1: Khái quát về Viện trợ Phát triển Chính thức Chƣơng 2: Viện trợ Phát triển Chính thức ở Việt Nam từ năm 1993 đến nay 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 3: Hiệu quả và triển vọng thu hút và sử dụng Viện trợ Phát triển Chính thức ở Việt Nam 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC 1.1 Khái niệm Viện trợ Phát triển Chính thức (ODA) ODA là viết tắt của 3 chữ cái đầu trong tiếng Anh: “Official Development Assistance” có nghĩa là “Viện trợ Phát triển Chính thức”. Viện trợ phát triển chính thức bao gồm các khoản viện trợ không hoμn lại vμ các khoản vốn vay cung cấp cho các nƣớc đang và chậm phát triển. Các khoản ODA nμy (i) do khu vực chính thức thực hiện, (ii) chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế vμ phúc lợi x∙ hội, (iii) đƣợc ƣu đ∙i về mặt tμi chính (nếu lμ cho vay thì trong đó có ít nhất 25% lμ viện trợ không hoμn lại) [11, tr.
Năm 1972, Uỷ ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã thống nhất đƣa ra khái niệm cụ thể về ODA, vẫn đƣợc áp dụng cho đến nay. Đó là: “ODA gồm có các dòng vốn dành cho các nƣớc đang phát triển và các tổ chức đa phƣơng do các cơ quan chính thức, bao gồm Nhà nƣớc và Chính phủ, hay các cơ quan thực hiện cung cấp, đáp ứng đƣợc phƣơng thức sau: a) đƣợc quản lý với mục đích thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội của các nƣớc đang phát triển đƣợc coi là mục tiêu chính, và b) có tính chất hỗ trợ và hàm chứa thành tố cho không ít nhất là 25%” [51, p. Lần đầu tiên Nghị định 17/2001/NĐ-CP ngày 4/5/2001 về Quy chế quản lý và sử dụng nguồn viện trợ phát triển chính thức, cũng đã đƣa ra khái niệm về ODA nhƣ sau: “Viện trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt là ODA) trong Quy chế này đƣợc hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa nhà nƣớc hoặc Chính phủ Nƣớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ bao gồm: a) Chính phủ nƣớc ngoài; b) Các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia”. “Hình thức cung cấp ODA bao gồm: a) ODA không hoàn lại; b) ODA 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vay ƣu đãi có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%” [4, tr.
Nhƣ vậy, Viện trợ Phát triển Chính thức chính là: (i) Mối quan hệ hợp tác phát triển mang tính chất “Hỗ trợ” giữa quốc gia này với quốc gia khác nhằm thúc đẩy (ii) “Phát triển” kinh tế - xã hội thông qua con đƣờng (iii) “Chính thức” giữa cấp Nhà nƣớc với Nhà nƣớc, giữa Nhà nƣớc hoặc Chính phủ với các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, và (iv) mối quan hệ “Viện trợ phát triển chính thức” này hình thành và phát triển dựa trên nền tảng của một phần cho không (phần không hoàn lại hay còn gọi là thành tố hỗ trợ) kết tinh trong tổng nguồn vốn ODA hàng năm mà nƣớc này cam kết dành cho các nƣớc khác để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội đã định với giá trị ít nhất là 25% so với tổng giá trị viện trợ. Xét theo các hình thức đầu tƣ thì ODA là một trong những thành phần của đầu tƣ gián tiếp. Một nƣớc đang phát triển trong quá trình hiện đại hoá cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn nếu không có nguồn ODA hỗ trợ, và khả năng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) cũng sẽ bị hạn chế. Nhƣ vậy, xét trong cơ cấu vốn đầu tƣ từ bên ngoài, có thể thấy ODA là nguồn vốn rất quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên, chỉ có ODA chƣa đủ để hỗ trợ phát triển kinh tế, mà cần có sự kết hợp một cách hiệu quả các nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài khác cùng với nguồn vốn đầu tƣ cực kỳ quan trọng huy động từ trong nƣớc.2 Đặc điểm của ODA Vốn ODA mang tính chất ưu đãi Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn dài (chỉ trả lãi, chƣa trả nợ gốc). Đây chính là một sự ƣu đãi bên cho vay dành cho nƣớc vay. Vốn ODA của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com châu Á (ADB), Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn là 10 năm. Thông thƣờng, trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại (tức là cho không), đó chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thƣơng mại.
Thành tố cho không đƣợc xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh mức lãi suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thƣơng mại. Sự ƣu đãi ở đây là so sánh với tín dụng thƣơng mại trong tập quán quốc tế. Vốn ODA còn đƣợc thể hiện ở chỗ nó chỉ dành riêng cho các nƣớc đang và chậm phát triển, nhằm đạt đƣợc các mục tiêu phát triển. Vốn ODA mang tính ràng buộc ODA có thể ràng buộc (hoặc ràng buộc một phần, hoặc không ràng buộc) nƣớc nhận về nguồn sử dụng hay mục đích chi tiêu.
Ngoài ra, mỗi nƣớc cung cấp viện trợ cũng đều có những ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nƣớc nhận. Các nƣớc viện trợ nói chung đều không quên dành lại lợi ích cho mình, vừa gây ảnh hƣởng chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ vào nƣớc tiếp nhận viện trợ. Kể từ khi ra đời cho đến nay, viện trợ luôn chứa đựng hai mục tiêu cùng tồn tại song song. Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng trƣởng bền vững và giảm nghèo ở những nƣớc đang phát triển.
Động cơ này đã thúc đẩy các nhà tài trợ trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các nƣớc đang phát triển để mở mang thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm và thị trƣờng đầu tƣ. Viện trợ thƣờng gắn với các điều kiện kinh tế. Xét về lâu dài, các nhà tài trợ sẽ có lợi về mặt an ninh, kinh tế, chính trị khi kinh tế các nƣớc nghèo tăng trƣởng. Mối quan tâm này đƣợc kết hợp với tinh thần nhân đạo, tính cộng đồng.
Vì một số vấn đề mang tính toàn cầu nhƣ bùng nổ dân số thế giới, bảo vệ môi trƣờng sống, bình đẳng giới, phòng chống dịch bệnh, giải quyết các xung đột sắc tộc, tôn giáo, đòi hỏi sự hợp tác nỗ lực của cả cộng đồng quốc tế, không phân biệt nƣớc giàu, nƣớc nghèo. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mục tiêu thứ hai là tăng cƣờng vị thế chính trị của các nƣớc tài trợ. Các nƣớc phát triển sử dụng ODA nhƣ một công cụ chính trị, xác định vị trí và ảnh hƣởng của mình ở các nƣớc và khu vực tiếp nhận ODA. Viện trợ của các nƣớc phát triển không chỉ đơn thuần là việc trợ giúp hữu nghị, mà còn là một công cụ lợi hại để thiết lập và duy trì lợi ích kinh tế và vị thế chính trị cho nƣớc tài trợ.
Khi nhận viện trợ, các nƣớc nhận cần cân nhắc kỹ lƣỡng những điều kiện của các nhà tài trợ. Không vì lợi ích trƣớc mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài. Quan hệ viện trợ phát triển chính thức phải đảm bảo tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi. ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ Do tính chất ƣu đãi nên khi tiếp nhận và sử dụng vốn ODA thƣờng chƣa xuất hiện gánh nặng nợ nần.
Một số nƣớc do sử dụng không hiệu quả ODA, có thể tạo nên sự tăng trƣởng nhất thời, nhƣng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ. Sự phức tạp chính là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tƣ trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào rất nhiều vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó, trong khi hoạch định chính sách sử dụng nguồn vốn ODA phải phối hợp với các loại nguồn vốn khác để tăng cƣờng sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu. “Theo một số nghiên cứu cho thấy, cứ 1 USD viện trợ của phƣơng Tây sẽ có 9 USD quay trở lại dƣới dạng thanh toán nợ” [28, tr.
Rõ ràng, số tiền phải thanh toán nợ của các nƣớc đang phát triển đã vƣợt toàn bộ nguồn viện trợ đổ vào các nƣớc này.3 Sự cần thiết của ODA đối với sự phát triển quốc gia Chúng ta đều biết ODA là một nguồn vốn quan trọng đối với sự phát triển của bất kỳ quốc gia đang phát triển nào. Về bản chất, ODA là một dạng xuất khẩu 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tƣ bản (còn gọi là xuất khẩu tƣ bản gián tiếp - tức là thông qua vai trò nhà nƣớc hoặc các tổ chức quốc tế hoặc tổ chức tài chính quốc tế), thƣờng có quan hệ mật thiết với đầu tƣ tƣ nhân nên trong nhiều trƣờng hợp đƣợc coi nhƣ một yếu tố đi trƣớc, mở đƣờng cho đầu tƣ tƣ nhân. Các quốc gia đang phát triển có nhu cầu đầu tƣ rất cao và trên mọi lĩnh vực, để phát triển thì phải có cơ sở hạ tầng nhƣ đƣờng xá, cầu cống, sân bay, bến cảng, điện, cấp nƣớc,. vừa phải tôn trọng các cam kết quốc tế vừa phải tự hoàn thiện môi trƣờng kinh tế trong nƣớc, tức là mở cửa, tự do hoá, hoàn thiện hệ thống pháp lý theo hƣớng có nhu cầu mở mang thị trƣờng, tạo điều kiện cho các công ty của họ chiếm lĩnh và thâm nhập các thị trƣờng mới.
Điểm gặp nhau của hai nhu cầu này đã cho ra đời hình thức cung cấp và tiếp nhận nguồn vốn ODA theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi (bên tiếp nhận có thể tranh thủ đƣợc nguồn vốn này theo nguyên tắc thực hiện các mục tiêu phát triển của mình và bên cung cấp thì thông qua hoạt động tài trợ, đầu tƣ vừa thúc đẩy tiến trình hội nhập, mở cửa, tự do hoá, tạo điều kiện để các công ty tƣ nhân mở rộng thị trƣờng).