Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về tác động của nguồn vốn ODA đến tăng trưởng kinh tế. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách. CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN VỐN ODA ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2. Tổng quan về nguồn vốn ODA và tăng trưởng kinh tế: 2. Nguồn vốn ODA: 2.
Khái niệm về nguồn vốn ODA: ODA là tên gọi viết tắt của ba từ tiếng Anh Official Development Asistiance có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức. Tại điều I quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức số 131/2006/NĐ-CP, ban hành ngày 09/11/2006 có nêu khái niệm về ODA như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt là ODA) được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ”. Khái niệm “Viện trợ nước ngoài” được đặt nền móng chính thức sau chiến tranh thế giới thứ 2 bằng kế hoạch Marshall2 và trải qua giai đoạn phát triển khá dài. Thời kỳ đầu, định nghĩa viện trợ nước ngoài chỉ những nguồn lực chuyển giao từ một nước giàu có đến một nước kém phát triển hơn.
Tuy nhiên, theo Smith và Todaro (2015), khi tính toán lượng viện trợ, cách định nghĩa đơn giản này tạo ra nhiều vấn đề: - Thứ nhất: Thay vì viện trợ chính thức, các nước giàu có có thể sử dụng những hình thức ưu đãi khác cho các nước nghèo, ví dụ như ưu đãi xuất khẩu (từ đó có thể làm cho thu nhập ngoại tệ của các nước nhận ưu đãi tăng lên). Vì vậy, những khoản chuyển giao vốn ngầm này lẽ ra nên được cộng vào trong tổng giá trị viện trợ, nhưng thực tế là không; 2 Kế hoạch Marshall là tên gọi tắt của Chương trình Tái thiết Châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ 2 do bộ trưởng ngoại giao Mỹ George Marshall đề xuất và được tổng thống Truman thông qua vào tháng 4/1948. Kế hoạch này được xem là chương trình viện trợ kiểu mẫu cho các chương trình viện trợ ngày nay. Tuy nhiên có một số điểm khác biệt: kế hoạch Marshall hướng tới các nước tiên tiến tại châu Âu (như Anh, Pháp) nhằm xây dựng lại cơ sở hạ tầng và khôi phục mức năng suất lao động trước chiến tranh, trong khi các chương trình viện trợ sau này nhằm mục đích thúc đẩy tăng trưởng và phát triển ở những nước đang hoặc chậm phát triển (Block, Lindauer, Perkins, & Radelet, 2006).
- Thứ hai: Các dòng vốn tư nhân nước ngoài cũng từng được xem là hình thức viện trợ. Việc này dẫn đến nhiều chỉ trích, bởi vì các dòng vốn này chỉ nhằm mục đích thương mại, chứ không nhằm hỗ trợ cho các khu vực đang gặp tình trạng khó khăn, vì thế phải bị loại trừ ra khỏi tổng viện trợ. Nói cách khác, một khoản vốn được gọi là viện trợ “phụ thuộc vào việc ai cho, vì mục đích và điều kiện gì” (Block và cộng sự, 2006). Tất nhiên, ranh giới để phân biệt viện trợ thuần túy và tài trợ vì mục đích thương mại là vô cùng mong manh.
Trải qua hơn 4 thập kỷ, khái niệm viện trợ được mở rộng theo tiến trình toàn cầu hoá. Viện trợ không chỉ dừng lại ở góc độ tài chính mà còn bao gồm những sự hợp tác về kỹ thuật hoặc những đóng góp về mặt ý tưởng cho tiến trình cải cách kinh tế (tuy nhiên không bao gồm: những khoản viện trợ quân sự3, những chương trình viện trợ phát triển chính trị, tín dụng xuất khẩu và việc xóa nợ các khoản vay vì mục tiêu quân sự) (Dollar & Pritchett, 1999; OECD, 2011). Theo cách hiểu chung nhất, ODA là tất cả các khoản hỗ trợ không hoàn lại và các khoản tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn và lãi suất thấp của các Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liệp hợp quốc, các tổ chức phi Chính phủ (NGOs), các tổ chức tài chính quốc tế (IMF, ADB, WB.) giành cho các nước nhận viện trợ. ODA được thực hiện thông qua việc cung cấp từ phía các nhà tài trợ các khoản viện trợ không hoàn lại, vay ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán (theo định nghĩa của OECD, nếu ODA là khoản vay ưu đãi thì yếu tố không hoàn lại phải đạt 25% trở lên).
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao một phần GNP từ bên ngoài vào một quốc gia, do vậy ODA được coi là một nguồn lực từ bên ngoài. Đặc điểm của nguồn vốn ODA: Nguồn vốn ODA có tính ưu đãi: ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trong những điều kiện nhất định một phần tổng sản phẩm quốc dân từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển. 3 Viện trợ quân sự thông thường đơn thuần chỉ nhằm mục đích củng cố lực lượng quân đội, nhưng đôi khi các nhà tài trợ cũng cho phép trích một tỉ lệ phần trăm để dành cho các chương trình phát triển. Tuy nhiên, viện trợ với mục đích cải cách kinh tế hay năng suất lao động hầu như tác động nhiều hơn lên tiến trình phát triển so với viện trợ quân sự (U.
Congressional Budget Office, 1997). Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn dài), có thời gian ân hạn dài. Chẳng hạn, vốn ODA của WB4, ADB5; JBIC6 có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn là 10 năm. Thông thường, trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại (cho không), đây cũng chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại.
Thành tố cho không được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh lãi suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại. Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trong những điều kiện nhất định một phần tổng sản phẩm quốc dân từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Do vậy, ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội từ phía nước cung cấp cũng như từ phía nước tiếp nhận ODA. Vốn cho vay của ADB dành cho các thành viên được chia thành 2 loại như sau: Bảng 2.1: Nguồn vốn vay của ADB dành cho các thành viên Nguồn vốn đặc biệt (ADF) Nguồn vốn thông thường (OCR) - Thời hạn vay: 32 năm - Thời hạn vay: 25 năm - Thời gian ân hạn: 8 năm - Thời gian ân hạn: 5 năm - Lãi suất: 1% năm (thời gian ân - Lãi suất: thị trường hạn) và 1,5% năm sau đó.
- Phí cam kết vay: không - Phí cam kết vay: 0.75% năm (Nguồn: ADB) 4 World Bank: Ngân hàng thế giới 5 The Asian Development Bank: Ngân hàng phát triển Châu Á 6 The Japan International Cooperation Agency: Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản Còn vốn cho vay của WB dành cho các thành viên được chia thành 2 loại như sau: Bảng 2.2: Nguồn vốn vay của WB dành cho các thành viên Vay IDA7 Vay IBRD8 - Thời hạn vay: 40 năm - Thời hạn vay: 25 năm - Thời gian ân hạn: 10 năm - Thời gian ân hạn: 3 năm - Lãi suất: 0% năm - Lãi suất: 2,3% năm - Phí cam kết vay: 0,75% năm - Phí cam kết vay: 0.85% năm (Nguồn: World Bank) Nguồn vốn ODA có tính ràng buộc: ODA có thể ràng buộc (hoặc ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc) nước nhận về địa điểm chi tiêu. Ngoài ra mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều có những ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nước nhận. Ví dụ, Nhật Bản quy định vốn ODA của Nhật đều được thực hiện bằng đồng Yên Nhật. Vốn ODA thường đi kèm theo những ràng buộc về kinh tế, chính trị đối với các nước tiếp nhận.
Các khoản viện trợ luôn chứa đựng hai mục tiêu thúc đẩy sự tăng trưởng bền vững và giảm sự nghèo khó của các nước nhận viện trợ, đồng thời nhằm mở mang thị trường tiêu thu sản phẩm và vốn. Tính ràng buộc của ODA còn được thể hiện qua mục đích sử dụng mỗi một thỏa thuận hay hiệp định vay vốn đều dành một lĩnh vực đầu tư cụ thể, nước tiếp nhận ODA không thể tùy tiện thay đổi. Nếu không tuân thủ những quy định nhằm đảm bảo mục tiêu thì thỏa thuận vay vốn có thể bị bên cho vay đơn phương hủy bỏ. Khi nhận viện trợ các nước nhận cần cân nhắc kỹ lưỡng những điều kiện của các nhà tài trợ không vì lợi ích trước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài.
Quan hệ hỗ trợ phát triển phải đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi. 7 Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA): được thành lập năm 1960 chuyên cấp tài chính cho các nước nghèo. 8 Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển (IBRD): được chính thức thành lập ngày 27/12/1945 với trách nhiệm chính là cấp tài chính cho các nước Tây Âu để họ tái thiết kinh tế sau Chiến tranh thế giới II và sau này là cho phát triển kinh tế ở các nước nghèo. Sau khi các nước này khôi phục được nền kinh tế, IBRD cấp tài chính cho các nước đang phát triển không nghèo.
Là nguồn vốn có khả năng gây nợ: Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ thường chưa xuất hiện. Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ. Vấn đề là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó, trong khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp với các nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.
ODA là một giao dịch quốc tế: Hai bên tham gia giao dịch không cùng quốc tich. Thông thường, quốc gia nhận nguồn ODA đầu tư thường là những nước kém phát triển và gặp khó khăn trong nguồn lực để giải quyết vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội.