CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN ODA TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN 1.1 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài Công tác quản lý và sử dụng vốn ODA cho phát triển NN&NT đã có một số bài bình luận, luận văn; các bài báo, các tạp chí trong và ngoài nước nghiên cứu về cách thức sử dụng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA cho phát triển NN&NT, điển hình như một số nghiên cứu dưới đây: (1) Lê Thanh Nghĩa (2009) với nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam”. Nghiên cứu được thực hiện với mục đích nêu lên các thành quả mà nguồn vốn ODA đóng góp cho Việt Nam trong quá trình CNH – HĐH đất nước. Đồng thời, nghiên cứu còn nêu lên các mặt hạn chế và mâu thuẫn trong thực tiễn quản lý và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam trong giai đoạn 1993 - 2008 như: trong giai đoạn này, ta rất cần vốn cho đầu tư nhưng vốn ODA được giải ngân rất chậm làm ảnh hưởng đến tiến độ dự án, chất lượng công trình và vốn cam kết cho các dự án tiếp theo của nhà tài trợ. Từ đó, tác giả cũng đã đề xuất, đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn ODA ở các giai đoạn tiếp theo, để sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA, vốn vay đã huy động được.
Đồng thời, hướng tới các dự án có tính hiệu quả lan tỏa cao, gắn liền với khả năng trả nợ vay. Tác giả cũng chỉ ra các giải pháp để thực hiện như: Việt Nam cần hoàn thiện hệ thống pháp luật và các quy định liên quan đến công tác quản lý vốn ODA, tăng cường công tác ngăn ngừa tham nhũng và thất thoát, nâng cao tỷ lệ giải ngân nguồn vốn ODA mà các nhà tài trợ đã ký kết tài trợ cho Việt Nam, nghiên cứu các nguồn vốn bổ sung vào nguồn vốn ODA trong thời gian tới. (2) Trần Thị Phương Thảo (2005) với nghiên cứu “Các giải pháp thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Bộ Nông nghiệp và PTNT trong giai đoạn hiện nay”, là nghiên cứu liên quan đến ODA cho ngành nông nghiệp, đã chỉ ra một số giải pháp mang tính chất vĩ mô đối với NN&PTNT. Tuy nhiên, thời gian tác giả đưa các giải pháp là từ năm 2006 - 2010, trong khi sau năm 2010 quy mô và tính chất hỗ trợ vốn ODA cho Việt Nam có nhiều thay đổi nên việc thu hút nguồn vốn ODA sau năm 2010 mới là một vấn đề vô cùng khó khăn của các nhà quản lý vì lúc này Việt Nam không hẳn được coi là nước nghèo để hưởng các ưu đãi về lãi suất nữa.
Đồng thời, các giải pháp của tác giả không gắn với các đặc điểm của vùng miền mà tiếp cận theo ngành kinh tế. (3) Nguyễn Thị Minh Hòa (2013) với nghiên cứu “Nguồn vốn ODA đối với vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Ninh Bình”, đã đề cập tới vai trò của ODA đối với vấn đề xóa 5 đói giảm nghèo. Đề tài đã nghiên cứu thực trạng đói nghèo và vai trò của ODA đối với công tác xóa đói giảm nghèo của tỉnh Ninh Bình và qua đó phân tích các tác động của nguồn vốn ODA đến tỉnh. Nguồn vốn ODA được xem là chất xúc tác giúp thúc đẩy phát triển CSHT, giáo dục, tạo việc làm, tăng thu nhập và phát triển mạng lưới an sinh xã hội của tỉnh.
Từ việc đi sâu vào công tác đánh giá thực trạng sử dụng nguồn vốn ODA và vai trò của nguồn vốn này đối với vấn đề xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh, tác giả cũng đề xuất ra những quan điểm, những giải pháp, định hướng chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của nguồn vốn ODA đến công tác xóa đói giảm nghèo của tỉnh trong thời gian tới. (4) Hà Thị Thu (2014) với đề tài “Thu hút và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chínhh thức (ODA) vào phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam: Nghiên cứu tại vùng duyên hải miền Trung” đã chỉ ra một số hạn chế trong việc xây dựng dự án ODA, trong tổ chức quản lý thực hiện dự án, trong giải ngân và bố trí vốn đối ứng,. Đồng thời, luận án cũng chỉ đề xuất việc thực hiện một số giải pháp đồng bộ mang tính chất vĩ mô như: Xây dựng đề án giúp thu hút vốn ODA; Áp dụng mô hình quản lý dự án chuyên nghiệp; Thành lập quỹ vốn đối ứng; Hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến thu hút và sử dụng ODA. Bên cạnh đó, cũng cần chú trọng thực hiện các giải pháp tổ chức, quản lý dự án ODA như: Tăng cường hài hòa hóa quy trình và thủ tục giữa Chính phủ và nhà tài trợ; Đẩy nhanh quá trình thẩm định, phê duyệt các chương trình, dự án ODA trong nông nghiệp, nông thôn; Tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ quản lý dự án; Hoàn hiện công tác đấu thầu và tuyển chọn nhà thầu; Cải tiến quy trình giải ngân đối với các dự án ODA nói chung và trong lĩnh vực NN&NT nói riêng; Phát triển hệ thống giám sát và đánh giá chương trình, dự án ODA; Tăng cường tính bền vững của các dự án ODA trong phát triển NN&NT tại Việt Nam và vùng Duyên hải Miền Trung.
(5) Lê Minh Sơn (2014) với đề tài nghiên cứu “Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh”. Nghiên cứu được thực hiện với mục đích làm rõ thực trạng phát triển CSHT nông thôn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Qua đó, đề xuất giải pháp giúp tháo dỡ khó khăn, đẩy nhanh quá trình phát triển CSHT nông thôn gắn liền với quy hoạch phát triển hệ thống nông thôn đến năm 2020 tại huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. (6) Trần Kim Long và Lê Thành Văn (2015) bài viết trên trang thông tin điện tử tổng hợp của Ban Kinh tế Trung ương “Nhìn lại 20 năm vận động ODA của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giai đoạn 1996 - 2015”.
Bài viết đã tổng kết lại 20 năm huy động, sử dụng vốn ODA của Bộ Nông nghiệp và PTNT, qua đó nêu lên những thành công trong quá trình thu hút, vận động và quản lý nguồn vốn ODA và 6 đưa ra các giải pháp trong bối cảnh mới khi Việt Nam đã vượt qua ngưỡng thu nhập trung bình thấp. Qua các bài nghiên cứu trên có thể nhận thấy, phần đông các tác giả của những bài viết đều nêu ra được: một số vấn đề lý luận về nguồn vốn ODA như: khái niệm, đặc điểm, ưu nhược điểm của nguồn vốn,.; Qua quá trình nghiên cứu từ thực tế thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA cho Nông nghiệp và PTNT, các tác giả đã đúc kết ra được kinh nghiệm cũng như các bài học kinh tế khi sử dụng nguồn vốn này; Đồng thời cũng chỉ ra được các mặt hạn chế và nguyên nhân của nó. Từ đó, đề xuất đưa ra các giải pháp và kiến nghị phù hợp giúp cho việc sử dụng vốn ODA trong phát triển NN&NT được hiệu quả hơn. Đây cũng là một phần quan trọng giúp tác giả có thể học hỏi và áp dụng trong việc đề xuất các kiến nghị, giải pháp giúp cho quá trình quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA cho phát triển NN&NT trên địa bàn tỉnh Bình Định diễn ra được hiệu quả hơn vào thời gian tới.2 Cơ sở lý luận về nguồn vốn ODA 1.1 Khái niệm, mục tiêu và đặc điểm của nguồn vốn ODA 1.1 Khái niệm và mục tiêu của nguồn vốn ODA Sự ra đời của nguồn vốn ODA Tháng 7/1944, trước tình hình Đại chiến thế giới II sắp kết thúc, 44 nước đã tham gia Hội nghị tài chính quốc tế tại Bretton Wood (Mỹ) thành lập ra Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF - International Monetary Fund) và Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế (IBRD - International Bank for Reconstruction and Development).
IBRD chính thức đi vào hoạt động ngày 25/6/1946, còn IMF chính thức đi vào hoạt động tháng 3/1947. Sau chiến tranh Thế giới thứ II kết thúc (1945), các nước Châu Âu, Châu Á đều bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Riêng nước Mỹ ít bị thiệt hại, thậm chí còn phất lên nhờ chiến tranh. GNP năm 1945 của Mỹ là 213,5 tỷ USD, bằng khoảng 48% tổng GNP của thế giới, tăng gần 2 lần so với 125,8 tỷ USD của năm 1942.
Để giúp đỡ các nước đồng minh Tây Âu khôi phục kinh tế, phát huy ảnh hưởng chính trị, đồng thời ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô và các nước XHCN, Mỹ đã triển khai “Kế hoạch Marsahall” thông qua Ngân hàng thế giới, chủ yếu là IBRD. Thông qua kế hoạch này, Mỹ đã thực hiện tài trợ vốn ồ ạt, được ví là “Trận mưa dollar” khổng lồ chi cho Tây Âu với tên gọi là khoản “Hỗ trợ phát triển chính thức - ODA”. Trong ODA có 2 phần: Một phần viện trợ không hoàn lại và một phần cho vay ưu đãi, lãi suất thấp, thời gian vay dài. Theo OECD, từ giữa những năm 1960 trở đi, cùng với sự hồi phục của nền kinh tế các nước Tây Âu, ODA được coi là khoản tài trợ của các nước phát triển cho các nước đang và chậm phát triển.
Đối với các khoản ODA của WB thì từ những năm 7 1990 có sự phối hợp cùng với các khoản tài trợ của IMF cho các nước để hỗ trợ cho các chương trình phát triển của các nước đang và chậm phát triển. Khái niệm về nguồn vốn ODA - Theo OECD Khái niệm ODA được Uỷ ban Viện trợ Phát triển (DAC - Development Assistance Committee) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD - Organization for Economic Cooperation and Development) chính thức đề cập vào năm 1969. Viện trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA - Official Development Assistance) là nguồn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm: các khoản viện trợ và cho vay với các điều kiện ưu đãi. ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và chậm phát triển, được các cơ quan chính thức của các Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ tài trợ.
ODA phát sinh từ nhu cầu của một quốc gia, một địa phương, một ngành được tổ chức quốc tế hay nước hỗ trợ ODA xem xét và cam kết tài trợ, thông qua một Hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên bao gồm: bên nhận và bên hỗ trợ vốn ký kết với nhau. Hiệp định quốc tế hỗ trợ này được quy định trong Công pháp quốc tế.